Tự hào Ngô Tộc
Họ Ngô ở Trảo Nha sớm nổi tiếng là cự tộc võ thần từ thời Lê Trung Hưng. Theo gia phả còn lại ở Trảo Nha thì dưới thời Lê và Tây Sơn có tới 18 quận công, 36 hầu tước, 4 người đỗ tạo sĩ (tiến sĩ võ)và nhiều người đỗ tam trường võ. Tới đầu thế kỷ XVIII văn tài mới nở rộ. Chỉ tính những người họ Ngô ở lại Trảo Nha đã có 3 người đỗ tiến sĩ, 2 người đỗ hương cống, 5 người đỗ cử nhân. Hoành quận công Ngô Phúc Túc là người vừa đỗ tiến sĩ võ vừa đỗ hương cống văn. Thời cận đại ông nghè Ngô Đức Kế xuất thân trong gia đình cự nho, đỗ đại khoa nhưng không chịu ra làm quan mà đi tìm đường cứu nước. Thời hiện đại có nhà thơ mới nổi tiếng – Xuân Diệu đỗ tú tài tân học là danh nhân văn hóa Việt Nam.
Chúa Trịnh đã tặng cự tộc võ thần này 4 chữ “xã tắc trảo nha”. Cái tên Trảo Nha có từ đây. Trong hàng loạt danh tướng Trảo Nha thì Đại Tư Mã Ngô Văn Sở là người lập nên công trạng oanh liệt nhất nhưng cũng là người phải nhận cái chết oan uổng nhất. Vì vậy cuộc đời của vị dũng tướng này được người đời dệt thêu thành truyện dân gian trong kho tàng truyện cổ dân tộc.
Từ thời Lý đất Thổ Sơn – Ngạn Sơn (Núi Nghèn) thị trấn huyện Can Lộc ngày nay đã là một vùng đông đúc đô hội. Vào khoảng đầu thế kỷ XV họ Ngô mới tới đây lập nghiệp và nhanh chóng trở thành một cự tộc võ thần. Đời thứ hai đã có người mở đầu công nghiệp với chức tổng binh Thái Nguyên. Đời thứ ba, đời thứ tư thời Lê Sơ đều có người được phong tước hầu và tặng Thái Bảo. Tới đời thứ năm trở về sau nhờ có nhiều võ công trong nội chiến Nam Bắc Triều (Lê Mạc), nhiều người họ Ngô trở thành danh tướng thời Lê Trung Hưng. Đặc biệt, đời thứ bảy, Toàn quận công Ngô Phúc Vạn là con rể của Trịnh Tùng được tặng Thái Bảo. Phúc Vạn có mười người con trai làm rạng rỡ thêm võ công của dòng họ đều được phong công hầu. Con cháu mười vị tướng này đi trấn nhậm nhiều nơi đã hình thành nhiều chi họ Ngô mới ở Thụy Khê – Hà Nội, Lệ Thủy và Bố Trạch - Quảng Bình, Điện bàn - Quảng Nam, Châu Thới 2 - Thị xã Châu Đốc và nhiều huyện khác trên đất nghệ Tĩnh.
Ngô Mãnh là hậu duệ của chi họ Ngô theo Chúa Nguyễn vào Thuận Hóa. Tiếp nối truyền thống võ công của dòng họ, lại được cha ông truyền dạy võ thiếu lâm và binh pháp công phu nên ông tinh thông côn quyền, cung tiễn, có tài lược thao. Ông được Chúa Nguyễn Phúc Khoát tin dùng phong đô thống, giao cho cầm binh đóng ở Sông Gianh và lũy Trường Dục để ngăn chặn quân Trịnh. Chúa tin cậy ông như chúa Hiền tin cậy quân công Nguyễn Hữu Dật thời trước. Là người tận trung với sự nghệp “Đàng Trong” các đời chúa đã tạo dựng nên, ông giận gian thần Trương Phúc Loan đã bỏ Hoàng Tôn Dương và Nguyễn Phúc Luân lập Nguyễn Phúc Thuần con thứ 16 mới 12 tuổi lên ngôi vương để dễ bề lộng quyền khi chúa Nguyễn Phúc Khoát qua đời. Phúc Loan lại tự xưng là quốc phó, nắm mọi quyền lực, giết trọng thần Nội hữu Trương Văn Hạnh người đã được Nguyễn Phúc Khoát giao cho dạy bảo Phúc Luân chuẩn bị gánh vác ngôi chúa và tìm cách hãm hại những nhười oán ghét hắn.
Đô thống Ngô Mãnh bị Thúc Loan quy trọng tội, tước hết binh quyền, tịch thu gia sản, truy bắt mọi người thân trong gia đình. Vị tướng tiền phương chỉ kịp dắt theo đứa cháu trai tuổi niên thiếu thoát thân, giả dạng hai ông cháu kẻ hành khất lẩn trốn tới Tuy Viễn phủ Quy Nhơn rồi lần bước lên vùng Tây Sơn tìm chốn cậy nhờ. Thuở ấy ở thôn Phú Xuân, xã Bình Phú huyện Tây Sơn ngày nay có gia đình Bùi Công nếp nhà thi lễ, sẵn truyền thống yêu nước thương dân lại giàu có, nhân đức và giàu lòng nghĩa hiệp được dân trong vùng kính trọng. Hai ông bà sống cùng hai con rất mực hiếu thảo là Bùi Thị Xuân và Bùi Văn cùng một lão bộc tận tụy chăm lo việc nhà.
Một hôm cụ ngồi đọc binh thư trước tiểu đình, bỗng nghe tiếng kêu xin ngoài cổng liền gấp sách ra mở cửa thì thấy một thiếu niên rách rưới, đen gầy, dắt tay ông lão vẻ mặt quắc thước, đầu tóc bạc phơ đi vào kêu xin. Động lòng trắc ẩn Bùi Công ân cần mời hai ông cháu vào hỏi han Nhơn mới biết hai ông cháu vốn nhà gia thế nhưng gặp cơn tai biến khôn lường, người thân không còn, gia đình khánh kiệt nên cháu phải dắt ông kiếm ăn qua ngày độ thân. Đoán biết là người lương thiện nên ông bà cho hai người ở gian chái từ đường và bảo người nhà cung phụng ăn uống hàng ngày đầy đủ cho lại sức.
Một đêm, trời đã về khuya, trăng sáng, ông lão rời chỗ ở dạo quanh vườn, nhìn ngọn núi phía tây mờ trong sương đêm, chạnh lòng nhớ tới thành lũy dinh quân, nhớ những ngày tháng gian lao leo đèo trốn tránh vừa qua, thương tiếc người thân đã bỏ mình vì nạn nước mà căm giận tên Phúc Loan tham tàn … thì bỗng thấy bóng đen trùm kín mặt cầm dao búa nhảy qua rào chạy về phía nhà Bùi Công. Tiếp theo là một lũ lâu la đốt đuốc xông vào thét đòi tiền của. Biết toán cướp đi ăn đêm, lão liền rút một cây tre bên rào làm vũ khí rồi phi thân đứng trước cửa chính thét lớn:
- Nghịch đồ! Phải dừng tay, có ta cứu chủ đây!
Thế là một cuộc hỗn đấu diễn ra trên sân, một địch mười. Tiếng côn tre của lão vun vút xoay tròn, trong chốc lát thì đứa què chân, gãy tay, đứa vẹo sườn nằm sóng xoài trên sân kêu xin tha mạng.
Lão dừng tay bảo chúng:
- Lần này ta tha cho chúng bay. Hãy cải tà quy chính về chăm lo ruộng vườn làm ăn, không được đến quấy phá nhà Bùi Công nữa. Nếu không nghe ta quyết không tha.
- Cả toán cướp rối rít phục lạy tạ lỗi rồi dìu nhau ra khỏi cổng đi vào bóng đêm không dám quay đầu lại.
Tới lúc này Bùi Công mới thắp đèn lên mở cửa đón lão vào nhà tỏ lời tri ân sâu nặng. Chủ và khách hàn huyên mọi nhẽ, Bùi Công mới biết vì sao hai ông cháu Ngô Mãnh và Ngô Văn Sở lại tới Tây Sơn. Từ đó tình thâm giao giữa hai người càng thắm thiết. Theo lời thỉnh cầu của Bùi Công, đô thống Ngô Mãnh ngày dạy văn, đêm luyện võ cho Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân.
Thấm thoát ba năm trôi qua, võ nghệ hai người đã tinh thông thì đô thống Ngô Mãnh lâm bệnh nặng. Trước khi nhắm mắt qua đời ông gọi Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân tới căn dặn:
- Bình sinh ta suốt đời theo nghề võ lấy mấy chữ “Trọng nghĩa khinh tài” làm trọng. Dòng họ ta vốn giữ gìn truyền thống võ công có để lại cho ta mấy bộ binh thư cổ rất quý. Nay ta giao lại cho Sở và Xuân. Hai cháu hãy tu chí học tập rèn luyện, để mang tài năng giúp nước cứu dân, chớ có theo phường siểm nịnh mà phụ lòng ta.
Nói xong ông tắt thở. Cả nhà Bùi Công lo việc mai táng vị tướng tài lỡ vận thật chu đáo mà dân trong vùng không ai rõ tung tích.
Lúc Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân đang tính chuyện chiêu tập binh mã để khởi quân chống quyền thần Trương Phúc Loan, thì từ Thượng Đạo, Nguyễn Huệ cử Trần Quang Diệu xuống Phú Xuân thu phục hai người cùng tụ nghĩa. Dọc đường Quang Diệu đánh nhau với cọp sơ ý lâm nguy. Bùi Thị Xuân tình cờ bắt gặp mới vung kiếm xông vào đánh cọp cứu Diệu rồi đưa về nhà chăm sóc thành mối nhân duyên kỳ ngộ. Một tháng sau, vết thương của Quang Diệu đã lành, Bùi Công chủ trương tổ chức hai đám cưới cùng một ngày cho hai cặp tân hôn: Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở với Bùi Thị Băng Tâm - một cô gái nết na xinh đẹp con ông anh gần nhà. Sau ngày kết hôn, Quang Diệu mới nói rõ Nguyễn Huệ cử mình xuống để mời hai người cùng ứng nghĩa. Cả nhà vui mừng thoả nguyện mong ước bấy lâu nay. Công tư đã vẹn cả đôi bề, Trần Quang Diệu giã từ nhạc phụ và người vợ mới cưới trở về An Khê trình Nguyễn Huệ. Còn Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân ở lại sắm voi ngựa, chiêu binh tập luyện chuẩn bị lực lượng.
Một thời gian sau, Nguyễn Huệ đi cùng Trần Quang Diệu, Trần Nha từ Thượng Đạo xuống Phú Xuân, giữa đường thu phục được Võ Văn Dũng và đồng đảng qua một trận đấu thi tài ngang sức, rồi cả bốn người cùng đến nhà Bùi Công. Nghe lời khuyên bảo của Bùi Công, Ngô Văn Sở và Bùi Thị Xuân tập hợp quân ứng cùng nghĩa cùng Nguyễn Huệ làm lễ tuyên thệ, cắt máu ăn thề trước hoàng thiên hậu thổ “Vì dân vì nước mà trừ tàn khử bạo”. Dứt lời thề, thay lời huynh trưởng cầm đầu nghĩa quân, Nguyễn Huệ dõng dạc tuyên bố phong chức Đổng Nhung cho Ngô Văn Sở, phong chức Tham tán hiệp đồng quân cơ cho Võ Văn Dũng, phong cho Bùi Thị Xuân bốn chữ “Cân quắc anh hùng”. Từ đây ngày ngày quân ứng mộ ở Hạ Đạo, đội nào ngũ ấy dương cao ngọn cờ thêu 4 chữ vàng “Hưng sư báo quốc” tập luyện ngày đêm trên thao trường dưới quyền chỉ huy của các tướng lĩnh Tây Sơn đợi ngày đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn.
Từ đây cuộc đời chinh chiến của vị dũng tướng Trảo Nha gắn liền với hưng thịnh của triều đại Tây Sơn.
Vốn con nhà võ tướng, am tường binh thư, tinh thông võ nghệ chẳng mấy khi rời yên ngựa thanh gươm, là thủ lĩnh của nghĩa quân Tây Sơn từ buổi đầu dấy nghĩa, Ngô Văn Sở xông pha nơi trận địa sá chi hiểm nghèo, lập nhiều công trạng từ khi lập thành Quy Nhơn đến đại thắng quân Thanh ở Ngọc Hồi - Đống Đa, tiến vào giải phóng Thăng Long, nên được vua Quang Trung Nguyễn Huệ tin dùng xem là “nanh vuốt” của mình. Năm 1787 Nguyễn Huệ đã cử Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân làm tham tướng quận vụ cho tiết chế Vũ Văn Nhậm ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Nhờ Sở và Lân mà Bắc Bình Vương biết được Văn Nhậm có ý chuên quyền bất phục mình nên đã tức tốc ra Bắc lần thứ hai giết Nhậm rồi phong chức Đại Tư Mã cho Ngô Văn Sở. Với trọng trách mới, Sở đứng đầu các võ tướng văn thần: Võ Văn Dũng, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết, Trần Thuận Ngôn, Ngô Thời Nhậm, cai quản việc Bắc Hà đang rối như tò vò vì tướng soái, quan lại mang nặng tư tưởng phù Lê vẫn nổi lên làm loạn ở nhiều nơi. Ngô Văn Sở đã bàn bạc, phối hợp với những người cộng sự đánh bại các thế lực Lê - Trịnh như bọn Hoàng Viết Tuyển ở Hoàng Giang, Sơn Nam; bọn Trần Quang Châu, Lê Ban ở Kinh Bắc, nhanh chóng ổn định tình hình khiến cho Lê Chiêu Thống và nhóm cựu thần nhà Lê phải lẫn trốn long đong chốn núi rừng, rồi cùng đường cho người chạy sang cầu cứu nhà Thanh.
Cuối năm 1788,lấy cớ khôi phục lại cơ đồ cho nhà Lê, Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị mang 29 vạn quân Thanh sang xâm lược nước ta. Mười một trấn Bắc Hà mới tạm yên giặc giã nay lại sắp đương đầu với kẻ thù mạnh. Bọn tàn quân Lê - Trịnh mấy tháng qua tan tác nằm im, nay rục rịch nổi dậy. Khi có tin từ biên ải bay về, là người mưu lược, Ngô Văn Sở một mặt vội họp quan lại cũ của nhà Lê mượn tiếng Sùng Nhượng Công coi việc nước viết thư đứng tên Lê Duy Cận, và giả danh các hào mục lập tờ trạng suy tôn Duy Cận làm Giám quốc, rồi sai cựu thần văn võ nhà Lê đưa thư và tờ bẩm đến cửa ải xin hoãn binh. Mặt khác, họp mật với những trọng thần được Bắc Bình Vương uỷ thác việc Bắc Hà bàn kế chống đỡ. Kẻ bàn đánh, người bàn đỡ, kẻ bàn lui quân. Giờ phút đất nước lâm nguy, Ngô Văn Sở đã có quyết định sáng suốt là theo kế tạm lui quân của Ngô Thời Nhậm. Để thực hiện cuộc rút lui chiến lược an toàn, Sở cho người phao tin đắp phòng tuyến Sông Cầu chống giặc, nhằm đánh lạc hướng phán đoán của quân thù và mật báo với quân bốn trấn phía Bắc rút về Thăng Long, mật báo với các trấn phía Nam sắp sẵn thuyền bè sẵn sàng đón đại binh kéo về. Khi toàn quân phía Bắc đã tề tựu đông đủ quanh Long thành liền tổ chức một cuộc tập trận lớn bên bờ sông Hồng để phô trương lực lượng. Trước khi rút quân, Sở cử đô đốc Tuyết tức tốc chạy trạm về Phú Xuân cấp báo tõ tình hình quân Thanh vào bờ cõi nước ta.
Vì thế khi vua Quang Trung cầm quân ra Bắc đại phá quân Thanh, Ngô Văn Sở vẫn làm Đại Tư Mã chỉ huy trung quân luôn đi cạnh Hoàng đế Quang Trung chỉ huy ba quân. Đánh tan quân giặc ở Ngọc Hồi - Đống Đa, tiến quân vào giải phóng Thăng Long, đuổi Tôn Sĩ Nghị về bên kia biên giới, động viên quân sĩ và vỗ về dân tình xong, Vua Quang Trung rút quân về nam. Trước khi lên đường nhà vua giao lại cho Ngô Văn Sở cai quản hết việc quân, việc nước mười một trấn Bắc Hà, Ngô THời Nhậm và Phan Huy Ích lo việc ngoại giao với Trung Quốc. Một năm sau (1791), Ngô Văn Sở là người cầm đầu sứ bộ nước ta đưa giả vương Phạm Công Trị sang bang giao với triều đình nhà Thanh. Vị chánh sứ nước Nam rất vui mừng vì đoàn sứ bộ của mình được đón tiếp trọng thể chưa từng thấy từ xưa đến nay. Giả vương được vua Thanh sai thợ vẽ hình làm lễ ôm gối. Vinh quang của vị tướng Trảo Nha đã lên tới tột bậc. Đi sứ về, từ cuối năm 1790 đến 1792, Ngô Văn Sở lên đường chinh chiến làm đô đốc thuỷ quân để cùng Lê Văn Nhân tìm diệt bọn hải phỉ lén lút quấy phá ngoài biển Đông. Vua Quang Trung băng hà, Ngô Văn Sở đau xót vô cùng. Một năm sau (1793) Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc bị ốm. Nguyễn Ánh đem quân từ Gia Định ra bao vây chặt thành Hoàng đế rất gấp. Vâng lệnh vua Cảnh Thịnh, vị tướng trường chinh lại cùng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn đem bộ binh, tượng binh và thuỷ binh chia đường vào cứu viện, đánh đuổi quân Ánh, giải vây cho quê hương của người anh hùng áo vải. Từ Quy Nhơn về, Ngô Văn Sở vẫn được vua Cảnh Thịnh tin dùng.
Hai năm sau (1795), Ngô Văn Sở lâm nạn, phải nhận cái chết thật oan uổng làm đau lòng người muôn đời.
Vua Quang Trung mất khi thái tử Quang Toản mới 10 tuổi, ông vua trẻ chưa thể đảm đương chính sự. Chính cung hoàng hậu họ Phạm là chị cùng mẹ khác cha với Bùi Đắc Tuyên học người xưa, ngồi buông rèm nghe việc triều chính nên Tuyên được cử làm Thái sư Giám quốc trông coi mọi việc trong ngoài. Lợi dụng thời cơ Đắc Tuyên chuyên quyền, nghi kị người trung, tin dùng kẻ nịnh, làm cho triều đình rối nát. Có lần ông vua trẻ Cảnh Thịnh chẳng biết xử trí ra sao chỉ ôm mặt khóc mà thôi. Những trọng thần được vua Quang Trung uỷ thác như Trần Quang Diệu tuy được phong chức cao nhưng để tước bớt binh quyền, Trần Văn Kỷ phải làm lính thú canh sông. Đô đốc Lộc bị cực hình rồi tra gông vào cổ đưa đi đày. Trong tình thế ấy Ngô Văn Sở là con rể của họ Bùi đang nắm binh quyền nên bị Võ Văn Dũng nghi cho cùng cánh với Tuyên. Khi ấy, Nguyễn Ánh lại mang quân đánh chiếm phía nam, Bùi Đắc Tuyên cử Trần Quang Diệu mang đại binh đi chinh nam với ngầm ý đẩy một bề tôi trung dũng đi xa triều đình. Còn Võ Văn Dũng trên đường về kinh tình cờ gặp Trần Văn Kỷ canh gác bên sông. Hai người bàn bạc với nhau mưu đồ trừ diệt đảng nịnh. Tới kinh, Dũng mật bàn với Phạm Công Hưng và Nguyễn Văn Huấn bố trí quân bất thình lình vây nhà Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, bắt hai người cho vào củi sắt ném xuống sông. Người dũng tướng Trảo Nha không chết trên yên ngựa mà chết vì sự hiểu nhầm của người cộng sự đã uống máu ăn thề với mình dưới bóng nghĩa kì trong ngày đầu khởi binh. Thật buồn thay!
Trong cơn gia biến bất ngờ của chủ tướng họ Ngô, có đội trưởng Ngô Dung là người tâm phúc trốn thoát. Dung ra roi lên ngựa vượt đèo, lội suối qua sông ngày đêm vào tận Diên Khánh báo tin khi Trần Quang Diệu sắp hạ thành. Biết triều có biến, lòng xiết lo toan, Thiếu phó vội thu đại quân về hỏi tội Võ Văn Dũng: vì sao lại hại Ngô Văn Sở, người anh rể của mình, bề tôi trung thành của Tiên Đế?
Nhưng rồi phần vì Võ Văn Dũng đã thấy lỗi lầm, phần vì trước sự mất còn của nhà Tây Sơn, hai vị đại thần hoà giải với nhau trước lời khuyên can của vua Cảnh Thịnh và triều đình. Cả hai cùng làm lễ tuyên thệ kết làm anh em, sống chết có nhau, hết lòng phụng sự nhà Tây Sơn.
Chỉ có bà quả phụ Bùi Thị Băng Tâm chiều chiều lại ra bờ Hương Giang sụt sùi than khóc người chồng bị nạn, tiếc nuối sao Hoàng đế Quang Trung sớm vội quy tiên để đến nông nổi này. Bắc Cung Hoàng Hậu Ngọc Hân và nữ đô đốc Bùi Thị Xuân khuyên bảo mãi không nguôi.
----------
Chú giải:
(1) Trảo Nha là tên chúa Trịnh gọi các vị tướng họ Ngô là “nanh vuốt của nước nhà”.
(2) Tứ trường mới đạt tiến sĩ, tam trường thấp hơn một thang điểm.
(3) Dân địa phương nhân chúa Trịnh gọi “xã tắc trảo nha” mà đặt tên làng Trảo Nha.
(4) Đổng Nhung: là chức quan võ chỉ huy đoàn quân mới ứng mộ.
(5) Tham tán hiệp đồng quân cơ: là chức quan võ làm tham mưu bàn bạc việc quân với chủ tướng.
(6) Cân quắc anh hùng: là người phụ nữ anh hùng gọi theo tiếng Hán.
(7) Hưng sư báo quốc: sư ở đây chỉ đơn vị nghĩa quân mới mộ. Làm cho đội quân mới mộ trưởng thành để lập công với nước.


DŨNG TƯỚNG TRẢO NHA - NGÔ VĂN SỞ