Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014


Thứ Hai, 6 tháng 10, 2014

Catrinel Menghia được cả thế giới biết đến với vai trò một siêu mẫu đắt giá. Với những đường cong hoàn hảo 89-61-89, năm 2001, siêu mẫu đến từ Rumani được vinh danh trong ngôi vị á quân của cuộc thi Tìm kiếm siêu mẫu thế giới do công ty Ford Model tổ chức. Với gương mặt hút hồn, cùng với những đường cong gợi cảm mê đắm lòng người, cô là gương mặt được các hãng thời trang săn đón.






Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

Tại sao khó có thể tự hào là người Việt Nam?


Đề tài này có thể rất tế nhị. Nếu là người Việt mà nói “tôi không tự hào là người Việt” thì chắc chắn sẽ bị “ném đá” như Hồi giáo ném đá những người ngoại tình. Một cuốn sách có tựa đề là “Tôi tự hào là người Việt Nam” mới xuất bản và đã bán hết 10000 cuốn đủ để nói đề tài này làm ấm lòng rất nhiều người như thế nào. Tôi chưa đọc quyển sách đó, nhưng đọc phần nhận xét của báo chí thì thấy hình như hàm lượng tri thức không cao (1). Đọc qua bài tường thuật một hội thảo cùng chủ đề cũng chỉ thấy những phát biểu chung chung. Vậy chúng ta có lí do gì để tự hào là người Việt Nam? Tôi nghĩ thành thật mà nói, chúng ta không có nhiều lí do. Khi tôi hỏi về câu này, nhiều người có học và suy nghĩ nói thẳng rằng họ không tự hào là người Việt Nam. Ở đây, tôi thử đóng vai một “devil advocate” về đề tài này.

Điều gì làm cho người ta tự hào là thành viên của một cộng đồng dân tộc? Nói đến tự hào dân tộc, có lẽ người Nhật có lòng tự hào cao nhất nhì thế giới. Năm 2008, kết quả điều tra xã hội ở Nhật cho thấy 93% người Nhật tự hào là người Nhật (2), và tỉ lệ này cao hơn Mĩ (85%). Con số này ở Nhật năm 1986 là 91%. Khi được hỏi điều gì làm cho họ tự hào là người Nhật thì 72% trả lời là yếu tố lịch sử, truyền thống và văn hoá, 43% trả lời là phong cảnh thiên nhiên. Ngoài ra, 28% chọn sự ổn định xã hội và an toàn, và 28% khác chọn đặc tính dân tộc làm cho họ tự hào. Người Nhật quá tự hào đến nỗi họ không nhận trợ giúp trong cơn bão Fukushima.

Riêng tôi muốn bổ sung những yếu tố trên và nghĩ đến 6 yếu tố sau đây: truyền thống và văn hoá, kinh tế, giáo dục & khoa học, xã hội ổn định, phong cảnh thiên nhiên, và trách nhiệm với cộng đồng thế giới. Phải nói ngay rằng xét đến 6 yếu tố này thì chúng ta rất khó mà tự hào là người Việt.

Truyền thống và văn hoá nghèo nàn & thiếu bản sắc tích cực

Thật khó chỉ ra một nét văn hoá đặc thù nào mang tính Việt Nam. Hỏi một người Việt Nam bình thường chỉ ra một nét văn hoá định hình Việt Nam, chắc chắn người đó sẽ lúng túng. Điều này dễ hiểu vì chúng ta khởi đầu từ một nền văn minh nông nghiệp (lúa nước) nhưng lại chịu ảnh hưởng bởi văn hoá Tàu cả ngàn năm. Hệ quả của sự ảnh hưởng đó để lại cho VN những đặc điểm mà chúng ta đều có thể nhận ra như tính vọng ngoại, chuộng bạo lực, tính vị kỉ, tính khoa trương bề ngoài và thiếu thực chất bên trong, v.v. Một nhà văn hoá xuất sắc là Đào Duy Anh từng nhận xét về người Việt Nam (trong “Việt Nam văn hoá sử cương”) như sau:

“Về trí tuệ thì người Việt Nam đại khái thông minh, nhưng xưa nay ít thấy có người trí tuệ lỗi lạc phi thường; sức ký ức thì phát đạt lắm, mà giàu trí nghệ thuật hơn trí khoa học, thích văn chương phù hoa hơn là thực học; Não tưởng tượng thường bị não thực tiễn hòa hoãn bớt cho nên dân tộc Việt Nam ít người mộng tưởng, mà phán đoán thường có vẻ thiết thực lắm; Sức làm việc khó nhọc, nhất là người ở miền Bắc, thì ít dân tộc bì kịp; Cảm giác hơi chậm chạp, song giỏi chịu đau đớn cực khổ và hay nhẫn nhục; Tính khí cũng hơi nông nổi, không bền chí, hay thất vọng; Hay khoe khoang trang hoàng bề ngoài, ưa thích hư danh; Thích chơi bời cờ bạc; Não sáng tác thì ít, nhưng mà bắt chước, thích ứng và dung hòa thì rất tài; Người Việt Nam lại rất trọng lễ giáo, song cũng có não tinh vặt, hay bài bác chế nhạo“.

Nói tóm lại những đặc tính về người Việt trên đây chẳng làm cho chúng ta tự hào. Những nét văn hoá đó càng lộ ra khi người Việt bắt đầu hội nhập quốc tế hay định cư ở nước ngoài. Chúng ta đã từng đọc và nghe những câu chuyện người Việt ăn cắp trong các siêu thị ở Nhật, Singapore, Úc, v.v. Chúng ta cũng từng nghe biết người Việt hám ăn và phung phí ra sao. Nhiều người biện minh rằng đó chỉ là số ít và chỉ tập trung vào một nhóm người ít học. Nhưng biện minh đó không thuyết phục, khi chúng ta biết rằng những người Việt ăn cắp ở nước ngoài là những người có học, là quan chức đang làm việc trong cơ quan công quyền, thậm chí đang hành nghề giảng dạy về đạo đức sống! Chúng ta cũng biết rằng sự hám ăn của người Việt nổi tiếng đến nỗi nhà hàng Thái Lan và Nhật phải để những tấm biển viết bằng tiếng Việt cảnh cáo. Phải nhìn nhận những thực tế đó, chứ không nên trốn tránh.

Ngay cả người Việt định cư ở nước ngoài cả vài chục năm vẫn giữ những bản sắc chẳng có gì đáng tự hào. Ở Úc, người Việt là một sắc dân có nhiều thanh thiếu niên ngồi tù. Cộng đồng người Việt ở Mĩ được xem là khá thành công, nhưng thực tế vẫn cho thấy đó là một cộng đồng nghèo và họ thường sống co cụm với nhau và thiếu khả năng hội nhập như cộng đồng người Nhật, Phi Luật Tân hay Hàn Quốc. Vì sống co cụm với nhau nên chúng ta dễ thấy bản sắc văn hoá của người Việt được duy trì như thế nào. Hãy đến những khu thương mại của người Việt ở Sydney, chúng ta dễ dàng thấy đó là những khu tấp nập buôn bán, nhưng nhìn kĩ thì sẽ thấy sự dơ bẩn, ồn ào, mất trật tự, và chen chúc chật hẹp. Nhìn kĩ hơn, chúng ta sẽ thấy hàng quán người Việt chỉ là ăn uống chứ không có những sinh hoạt mang tính văn hoá nào cả.

Về chính trị, VN cũng chẳng có gì đáng tự hào. Nền tảng chính trị VN trước đây (ở miền Bắc) và sau này (cả nước) lệ thuộc vào Tàu và Liên Xô. VN vẫn theo một chủ nghĩa lỗi thời và đã hết sức sống, một chủ nghĩa mà nơi khai sinh ra nó đã khai tử nó hơn 20 năm trước đây. Người Việt chẳng phát kiến được một chủ thuyết chính trị nào, mà chỉ rập khuôn theo chủ nghĩa Mao – Stalin. Không thể nào tự hào khi mà chính quyền ra rả mỗi ngày bảo người dân phải làm gì và giảng giải rằng yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội!

Người Úc tự hào vì họ có nền chính trị dân chủ, mà trong đó người dân có tự do thực hiện hoài bảo của mình, và chính phủ không lên lớp dạy bảo người dân phải làm gì hay làm ra sao. Người Mĩ tự hào vì họ có một nền dân chủ ổn định và hào hiệp giúp đỡ nhiều nước khác trên thế giới. Người Việt chúng ta khó mà tự hào như người Úc hay người Mĩ về tiêu chí chính trị.

Nhiều người Việt Nam rất tự hào rằng VN đã đánh thắng các đế quốc sừng sỏ nhất như Tàu, Pháp, và Mĩ. Chiến tranh là giải pháp của người thích cơ bắp chứ đâu phải là biện pháp của người thông minh. Vả lại, chiến tranh nhân danh chủ nghĩa và đánh thuê hay đánh dùm cho kẻ khác thì càng chẳng có gì để tự hào. Nhưng để thắng Pháp, thắng Mĩ, thì hàng triệu người Việt phải hi sinh, và đất nước nghèo mạt cho đến ngày hôm nay. Đằng sau những cái vinh quang chiến thắng là biết bao sai lầm và tội các đã bị che dấu. Người Thái Lan tự hào vì họ tránh được chiến tranh và giữ được hoà bình. Người Nhật chấp nhận đầu hàng trong cuộc chiến quân sự nhưng lại thắng trên trận chiến kinh tế, và họ tự hào điều đó. Tôi nghĩ nếu VN tránh được chiến tranh mới là điều đáng tự hào, chứ chiến tranh –- bất kể thắng hay thua –- thì chẳng có gì đáng tự hào. Làm người hùng vài phút để sau này mang tật suốt đời và rách nát thì rất khó xem đó là niềm tự hào.

Thất bại về kinh tế

Cho đến nay, dù chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm, VN vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới. VN không có bất cứ một tập đoàn kinh tế nào làm ăn thành công; tất cả những “VINA” hoặc là đã thất bại thê thảm, hoặc đang trong tình trạng thoi thóp. Nói đến Hàn Quốc người ta nghĩ đến Samsung, Kia, Hyundai; nói đến Nhật người ta nghĩ đến Toyota, Honda, Mazda, Sony, Panasonic, Toshiba và vô số các thương hiệu khác; còn nói đến VN chúng ta không có bất cứ một thương hiệu nào trên thế giới. Đến một cây kim, vít ốc, VN vẫn chưa sản xuất đạt chất lượng.

Trước 1975 ở miền Bắc cuộc Cải cách ruộng đất đã để lại nhiều “di sản” tiêu cực cho nền kinh tế nông nghiệp. Trước 1975, có thể nói kinh tế miền Bắc không đáng kể, trong khi kinh tế miền Nam phát triển khá, tuy chưa bằng Hàn Quốc nhưng cũng tương đương hay xấp xỉ các nước trong khu vực Đông Nam Á. Nhưng sau 1975, với chính sách cải tạo công thương và hợp tác xã nông nghiệp đã dẫn đến tình trạng suy sụp kinh tế, sản lượng nông nghiệp suy giảm thê thảm, và đời sống người dân vô cùng khốn khó một thời gian dài. Gần đây, một loạt tạp đoàn kinh tế bị sụp đỗ đã gây thiệt hại đáng kể cho kinh tế nước nhà. Ngay cả hiện nay, mỗi năm có gần 50 ngàn doanh nghiệp đóng cửa. Có thể nói không ngoa rằng trong suốt 70 năm qua, kinh tế VN đi từ thất bại này đến thất bại khác.

Bất cứ so sánh nào cũng khập khiễng, nhưng cần phải nhắc lại yếu tố thời gian rằng nước Nhật chỉ cần 20 năm là đạt được trình độ phát triển của các nước Âu Mĩ, Hàn Quốc cũng chỉ mất 20 năm để vươn mình thành một quốc gia tiên tiến, và gần nhất là Singapore cũng chỉ mất khoảng thời gian đó đến đưa thu nhập bình quân đầu người lên con số 55182 USD. Còn ở VN, thu nhập đầu người đến nay vẫn chưa đạt con số 2000 USD.

VN cơ bản vẫn là một nước nghèo. Theo World Bank, tỉ lệ nghèo ở VN tuy có cản tiến, nhưng vẫn ở mức ~21%. Ấy thế mà chính quyền VN thì tuyên bố rằng tỉ lệ nghèo chỉ 7%! Cái nghèo ở VN phải nói thật là thê thảm. Báo chí hôm qua mới đưa tin một em bé học sinh vì quá đói nên đã chết trên đường từ trường về nhà. Trước đó, một bà mẹ và 3 con đã vào rừng treo cổ tự tử vì nghèo đói. Ở miền Tây Nam bộ, một bà mẹ tự tử chết để người đi phúng điếu và lấy tiền đó nuôi con ăn học. Chưa bao giờ trong lịch sử VN có những trường hợp thương tâm như thế. Trong khi đó, có những đại gia bỏ ra hàng tỉ đồng để xây nhà cho chó mèo ở, có những người “đày tớ của nhân dân” sẵn tay vung tiền xây lâu đài, biệt thự cá nhân. Người Việt nào có thể nào tự hào khi đất nước có quá nhiều người nghèo như thế?

Giáo dục và khoa học làng nhàng

Những con số thống kê cho thấy người Việt Nam thiếu tính sáng tạo. Số bằng sáng chế đăng kí mỗi năm chỉ đếm đầu ngón tay và cũng chủ yếu do các công ti nước ngoài làm. Có năm VN chẳng có bằng sáng chế nào được đăng kí với nước ngoài. Số bài báo khoa học của VN trên các tập san ISI hiện nay chỉ khoảng 2000, chưa bằng số bài báo của một đại học lớn ở Singapore, Mã Lai, Thái Lan. Phần lớn (~80%) những bài báo khoa học của VN là do các nhà khoa học nước ngoài chủ trì hay giúp đỡ.

Người VN thường hay tự hào rằng VN có những người thợ khéo tay. Nhưng trong thực tế thì không phải vậy. Sự tinh xảo của người Việt chúng ta rất kém. Một người Pháp tên là Henri Oger (3) từng nhận xét về người Việt vào đầu thế kỉ 20 như sau:

“Thợ thủ công An Nam cũng bị nhận xét là kĩ thuật sơ sài, không được giảng dạy đầy đủ về nghề nghiệp, thiếu sáng tạo, không có những phẩm chất đã khiến cho người thợ ở châu Âu trở thành nghệ sĩ.”

Làm ẩu. Kĩ thuật sơ sài. Thiếu huấn luyện. Thiếu sáng tạo. Tất cả những nhận xét đó đều đúng. Không khó khăn gì để có thể đi tìm những bằng chứng thực tế làm cơ sở cho những nhận xét đó. Gần đây khi công ti thời trang Hermes muốn làm một cái cổng cho cửa hàng ở Hà Nội mà hết 5 đợt thợ VN làm đều không đạt, và cuối cùng họ phải nhờ đến một nhóm thợ từ Pháp sang để làm. Tôi đi qua cây cầu Nhơn Hội nhìn từ xa rất hoành tráng ở Qui Nhơn, nhưng đi trên cầu mới thấy họ làm rất ẩu, thô, và có khi nguy hiểm. Ngay cả cây cầu Rạch Miễu mới rầm rộ khánh thành cũng có nhiều vấn đề kĩ thuật, và cũng rất thô. Nhìn gần những tấm hình kí giả chụp trên cầu Rạch Miễu mới thấy cách làm của ta rất … hỡi ôi. Hình như người mình không có thói quen xem xét đến chi tiết, mà chỉ làm chung chung hay làm cho có mà thôi. Nhiều công trình của Việt Nam chỉ làm hình như nhằm mục tiêu khoe là “ta làm được”, rồi dừng ở đó, chứ không đi xa hơn. Thật ra, ngay cả “ta làm được” cũng không hẳn là làm được. Điều này rất tương phản với người Tây phương, những người mà khi làm cái gì họ cũng tính toán cẩn thận, xem xét từng chi tiết nhỏ, đánh giá lợi và hại một cách khách quan, v.v., cho nên khi công trình hoàn tất nó thường có chất lượng cao và lâu bền.

Việt Nam ta nổi tiếng làm gia công quần áo cho các công ti Tây phương. Quần áo họ gia công đẹp, và khi ra ngoài này, thường bán với giá rất cao. Nhưng còn hàng trong nước cũng do những công ti gia công đó làm với nhãn hiệu “chất lượng cao” thì sao? Nói ngắn gọn là chất lượng thấp thì đúng hơn. Họ cũng bắt chước may những cái cáo sơ mi hiệu Polo, Nautica, Tommy Hilfiger, v.v., nhưng nhìn kĩ thì họ bắt chước rất kém. Chỉ nhìn qua đường chỉ là thấy họ làm ẩu. Nhìn qua cách họ làm logo cũng dễ dàng thấy đây là đồ dỏm, bắt chước. Người Tàu cũng làm hàng nhái, nhưng họ nhái giỏi hơn người Việt. Hàng nhái của Tàu lợi hại đến nổi chúng ta khó nhận ra thật và giả. Còn hàng nhái của Việt Nam thì còn quá kém. Làm hàng nhái mà còn làm không xong thì chúng ta khó mà nói đến chuyện lớn được.

Do đó, có thể nói rằng người Việt thiếu tính sáng tạo, không tinh xảo và không khéo tay. Chẳng có gì đáng tự hào về giáo dục và khoa học. Có người lấy những tấm huy chương Olympic ra để tự hào rằng người Việt cũng thông minh chẳng kém ai, nhưng họ quên rằng đó chỉ là những con “gà chọi” chứ không hề đại diện cho đám đông dân số VN. Lại có người thấy người Việt thành công ở nước ngoài và nhận bừa đó là minh chứng cho sự thông minh của người Việt, nhưng họ quên rằng những người đó do nước ngoài đào tạo, chứ chẳng dính dáng gì đến VN. Kiểu “thấy người sang bắt quàng làm họ” như thế và kiểu lấy những tấm huy chương đó để tự hào là một sự ấu trĩ.

Xã hội bất an

Sẽ không quá đáng nếu nói rằng VN ngày nay là một xã hội bất an. Ở trên, tôi có nói người Việt chuộng bạo lực, và sự “ưa chuộng” đó thể hiện rất rõ trong thời bình. Tôi không rõ thống kê về tội phạm ở VN so với các nước khác ra sao (vì VN không công bố tỉ lệ này), nhưng vài số liệu gần đây cho thấy tình hình tội phạm càng ngày càng gia tăng. Trong thời gian 1992-1994, mỗi năm trung bình có 26344 vụ án hình sự được đưa ra xét xử ở toà; đến năm 2006-2008 thì con số này là 65761 vụ (4), một tỉ lệ tăng gần 2.5 lần!

Đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm giết người. Mỗi năm số vụ tội phạm giết người là hơn 1000 vụ và đang có dấu hiệu gia tăng trong thời gian gần đây. Chưa nơi nào có những vụ giết người vô cớ như ở VN: chỉ một cái nhìn cũng có thể dẫn đến cái chết! Vẫn theo thống kê, trong các vụ án giết người, giết người do nguyên nhân xã hội chiếm 90%, phần còn lại là chiếm đoạt tài sản (10%).

Một trong những tội phạm đang kinh tởm nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ em, và VN đứng khá cao trong loại tội phạm này. Số liệu thống kê từ năm 1998 đến 2006 cho thấy lực lượng chức năng đã phát hiện khoảng 5000 phụ nữ và trẻ em bị buôn bán!

Chưa hết, tội phạm cưỡng hiếp phụ nữ ở Việt Nam cũng có hạng trên thế giới. Theo một thống kê gần đây, VN ở hạng thứ 9 về tỉ lệ tội phạm và nạn nhân bị cưỡng hiếp thấp (5). Singapore đứng đầu bảng về an toàn cho phụ nữ. Việt Nam là nước tìm kiếm “sex” trên Google nhiều nhất thế giới (6). Thử hỏi, chúng ta có thể tự hào với thứ hạng như thế?

Đó là chưa kể một loại buôn bán phụ nữ khác được quảng cáo ở các nước như Tàu, Đài Loan, Singapore và Đại Hàn. Chưa bao giờ người Việt Nam chịu nhục khi con gái VN được cho đứng trong lồng kiếng như là những món hàng để người ta qua lại ngắm nghía và trả giá! Thử hỏi, có người Việt Nam nào tự hào được khi đồng hương mình bị đem ra rao bán như thế. Xin đừng nói đó là những trường hợp cá biệt; đó là tín hiệu cho thấy một đất nước đang bị suy đồi về đạo đức xã hội.

Ở VN, bước ra đường là chấp nhận rủi ro tai nạn, thậm chí chết vì sự hỗn loạn của hệ thống giao thông. Thật vậy, tai nạn giao thông ở VN đã và đang trở thành nỗi kinh hoàng của không chỉ người dân địa phương mà còn ở du khách. Năm 2013 cả nước xảy ra 31,266 vụ tai nạn giao thông, làm chết 9805 người và bị thương 32,266 người (7). Con số này tăng hàng năm. Số tử vong vì tai nạn giao thông thậm chí còn cao hơn số tử vong trong thời chiến!

Phong cảnh thiên nhiên và môi trường xuống cấp trầm trọng

Một trong những yếu tố làm cho người Nhật tự hào và người Úc cảm thấy may mắn là đất nước của họ có môi trường sạch sẽ và cảnh quang thiên nhiên xinh đẹp. Còn Việt Nam, khách quan mà nói không có những cảnh quang thiên nhiên hùng vĩ như Mĩ hay Úc, không có một môi trường xanh tươi và vệ sinh như Nhật. Ngoài ra, điều kiện khí hậu nhiệt đới rất khắc nghiệt, làm cho con người dễ bị và uể oải và ảnh hưởng đến năng suất làm việc.

Việt Nam là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất thế giới. Với sức ép của sự tăng trưởng dân số, môi sinh đang bị đe doạ nghiêm trọng. Nếu chỉ tính những con sông dài hơn 10 km, VN có gần 2400 con sống, và đó là một tài sản quốc gia, một nguồn tài nguyên rất lớn. Nhưng hiện nay, phần lớn những con sông đó đang chết. Hầu hết những con sông chảy qua thành thị đều bị ô nhiễm nặng nề. Còn những con sông nhỏ ở vùng quê đang trở thành những thùng rác khổng lồ. Tất cả gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và sinh hoạt của người dân.

Việt Nam cũng không có những đền đài lịch sử hoành tráng hay tinh tế như China, Ấn Độ, Nhật Bản, Kampuchea. Nhiều đền đài, chùa chiềng, bia miếu ở ngoài Bắc đã bị tiêu huỷ trong thời “Cải cách ruộng đất”, và sau này là chiến tranh. Ngay cả những đền đài còn “sống sót” cũng không được trùng tu và bảo trì nên càng ngày càng xuống cấp thê thảm. Người Kampuchea qua bao năm chiến tranh vẫn còn đền Angkor Thom, Angkor Wat để lấy đó làm niềm tự hào. Nhưng Việt Nam nói chung không có những công trình kiến trúc tinh tế và càng không có công trình hoành tráng để người dân có thể lấy đó làm tự hào.

Bủn xỉn với cộng đồng thế quốc tế

Một nhóm nghiên cứu ở Âu châu gần đây công bố bảng xếp hạng gọi là “Good Country Index” (GCI) đã cho thấy VN đội sổ trong số các nước tử tế trên thế giới. Bảng xếp hạng này cho thấy VN đứng hạng 103 (trong số 124 nước) về đóng góp cho hoà bình và an ninh thế giới. Còn về đóng góp vào các quĩ từ thiện và cung cấp nơi nương tựa cho người tị nạn thì VN đứng hạng 123, tức áp chót! VN không tham gia kí vào các công ước của Liên Hiệp Quốc; tuy nhiên kiểm soát được sự tăng trưởng của dân số. Tính chung, thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125). Điều đáng nói hay cũng có thể xem là nhục là thứ hạng tử tế của VN chỉ đứng chung bảng với mấy nước “đầu trâu mặt ngựa” như Lybia, Iraq, Zimbabwe, Yemen (8). Làm sao người Việt Nam có thể tự hào khi đứng chung với những nước đó?

Sự bủn xỉn của VN thể hiện rõ nhất qua đóng góp vào quĩ dành cho nạn nhân sóng thần ở Nhật vào năm 2011. Trong đợt đó, VN đóng góp 200,000 USD. Chỉ hai trăm ngàn USD! Chúng ta có thể lí giải rằng VN còn nghèo nên đóng góp như thế là hợp lí. Nhưng lí giải đó có lẽ không thuyết phục. Thái Lan đã giúp nạn nhân sóng thần Nhật 65 triệu USD và 15 ngàn tấn gạo (9). So với tỉ trọng GDP, đóng góp của Thái Lan hơn VN 100 lần. Chúng ta có thể nào tự hào với mức độ đóng góp chỉ có thể mô tả bằng hai chữ “bủn xỉn” đó?

Nói tóm lại, đánh giá trên 6 tiêu chí (truyền thống và văn hoá, kinh tế, khoa học-giáo dục, xã hội, phong cảnh thiên nhiên, và sống tử tế với cộng đồng thế giới), VN đều không có gì để lấy làm tự hào. Truyền thống không có gì nổi bậc, văn hoá không có nét gì nổi trội và đáng chú ý, kinh tế thất bại và người dân sống trong nghèo nàn và lạc hậu, không có thành tích gì đáng kể trong khoa học và công nghệ, xã hội bất an, môi trường bị xuống cấp trầm trọng, và cư xử không đẹp với cộng đồng quốc tế.

Ngược lại, VN đã và đang là một gánh nặng cho thế giới. Sau 1975, hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi và các nước phương Tây đã cung cấp nơi định cư (nhưng VN thì chẳng nhận người tị nạn từ Duy Ngô Nhĩ). VN cũng là nước chuyên xin xỏ: suốt năm này sang năm khác, quan chức VN ngửa tay xin viện trợ từ rất nhiều nước trên thế giới. Xin nhiều đến nỗi có quan chức nước ngoài phàn nàn nói “Sao chúng mày nói là chúng mày rất thông minh và cần cù mà cứ đi xin hoài vậy. Dân xứ tao phải làm lụng vất vã mới có tiền cho chúng mày”. Thật là nhục. Xin người ta thì nhiều mà khi người ta gặp nạn thì VN chẳng đóng góp bao nhiêu.

Nếu không xin thì cũng đi vay. VN bây giờ là một con nợ quốc tế. Nợ ngân hàng thế giới, nợ ngân hàng ADP, nợ đủ thứ ngân hàng và nợ đủ các nước. Chính phủ thì nói nợ công của VN là 54% (10), nhưng các chuyên gia độc lập thì nói con số cao hơn nhiều và ở mức báo động đỏ (tức là sắp vỡ nợ?) (11). Con số có lẽ quá lớn để cảm nhận, các nhà kinh tế học ước tính dùm cho chúng ta: mỗi một đứa trẻ mới ra đời ở VN hiện nay phải gánh một món nợ công 1000 USD. Có người biện minh rằng nợ như thế vẫn kém Mĩ, nước được xem là mắc nợ nhiều. Nhưng xin thưa rằng người giàu sản xuất ra máy bay (như Mĩ) mắc nợ rất khác với người nghèo không làm nổi cây kim và con ốc (như VN) mắc nợ.

Đã ăn xin và đi vay mà lại còn tham nhũng và hối lộ. Tham nhũng đã đến mức độ mà những người đứng đầu đảng và Nhà nước xem là “quốc nạn”, là đe doạ đến sự tồn vong của chế độ. Tham nhũng hiện diện ở mọi cấp trong chính quyền. Hầu như đụng đến các cơ quan công quyền, không hối lộ là không làm được việc. Ngay cả quan chức cao cấp (bộ trưởng, thứ trưởng) khi cần làm việc nhà vẫn phải hối lộ. Bổ nhiệm vào các vị trí trong trường học, bệnh viện, cơ quan Nhà nước, v.v. tất cả đều phải hối lộ, phải “chạy”. Nói trắng ra là mua chức quyền. Hối lộ trở thành một văn hoá sống và làm việc ở VN. Tham nhũng đã trở thành một nguồn sống của quan chức và những kẻ có quyền. Không ngạc nhiên khi VN bị Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp hạng tham nhũng hàng 116 trên 177 nước trên thế giới (12).

Còn trong quan hệ quốc tế thì nhiều quan chức nước ngoài nhận xét rằng các quan chức VN nói một đường làm một nẻo và có tính lươn lẹo. Điển hình gần đây nhất là vụ đặc phái viên Liên hiệp quốc về tôn giáo đã nói thẳng VN thiếu thành thật.

Do đó, không ngạc nhiên khi người VN cầm hộ chiếu VN ra nước ngoài không được chào đón thân thiện như người Nhật, Singapore, Hàn, Thái, Mã Lai, v.v. Một bản tin mới đây cho biết VN đứng hạng 81 về hộ chiếu được chấp nhận trên thế giới, tức miễn visa (13), và thứ hạng này còn thấp hơn cả Lào (80) và Campuchea (79). Tất cả những yếu tố đó cho thấy VN đang ở thế bất lợi trên trường quốc tế và không được cộng đồng quốc tế kính trọng.

Nhìn chung, Việt Nam như là một ông già nông dân nghèo khó nhưng thích trang hoàng bề ngoài, đầy sỉ diện nên thích làm anh hùng rơm, thiếu tính sáng tạo và tinh xảo nhưng lại hay khoa trương, và cư xử bủn xỉn hay quen nói láo với hàng xóm. Nếu phải tự hào là người Việt thì có lẽ đó là chuyện của tương lai.

GS. Nguyễn Văn Tuấn
=====

(1) http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/195190/toi-tu-hao-la-nguoi-viet-nam.html; http://www.gallup.com/poll/163361/proud-american.aspx

(2) http://www.japanprobe.com/2008/01/25/poll-finds-93-are-proud-to-be-japanese/

(3) http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=71&News=2859&CategoryID=12

(4) http://www.tks.edu.vn/portal/detail/4701_79_61_Tong-quan-ve-muc-do-cua-tinh-hinh-toi-pham-o-Viet-Nam-qua-so-lieu-thong-ke-tu-nam-1986—2008.html

(5) http://ione.vnexpress.net/tin-tuc/nhip-song/ba-lo/phuot/10-dat-nuoc-ti-le-toi-pham-cuong-hiep-thap-nhat-2912632.html

(6) http://www.nguoiduatin.vn/viet-nam-la-nuoc-tim-kiem-sex-nhieu-nhat-tren-google-a72394.html

(7) http://www.hvcsnd.edu.vn/vn/Acedemy/Tin-An-toan-giao-thong/207/3910/Tong-ket-tinh-hinh-tai-nan-giao-thong-nam-2013.aspx

(8) www.goodcountry.org

(9) http://boxitvn.blogspot.com.au/2011/03/thoi-hon-vao-con-so-thong-ke.html

(10) http://kienthuc.net.vn/tien-vang/giat-minh-tre-viet-moi-sinh-da-ganh-no-nghin-do-351367.html

(11) http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140908-ap-luc-no-cong-tang-mot-cach-dang-ngai/

(12) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2013/12/131203_corruption_survey_ti

(13) http://infonet.vn/ho-chieu-cua-quoc-gia-nao-duoc-uu-ai-nhat-the-gioi-post128135.info

Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014

Đó là lời chia sẻ của chị Ngô Thị Tuyết Hoàn, phó trưởng đoàn Xiếc 2 khi nói về những đam mê của một diễn viên, nghệ sĩ Xiếc trong từng đêm diễn cũng như trong suốt cuộc đời làm nghệ thuật của mình...

Khi nghệ sĩ xiếc biểu diễn những tiết mục của mình, mọi ánh mắt ngưỡng mộ lẫn khâm phục đều đổ dồn vào từng động tác của người nghệ sĩ ấy - đó chính là món quà khán giả đã dành tặng cho các nghệ sĩ xiếc và những tràng pháo tay chính là nguồn động viên tinh thần lớn nhất.

Chị Ngô Thị Tuyết Hoàn và chồng trong căn phòng của mình

Nhưng ít có ai nghĩ rằng, đằng sau những động tác tưởng chừng như đơn giản đó là cả một chuỗi ngày tập luyện gian khó, đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, thậm chí là đánh đổi cả một phần cơ thể của mình. Nhưng những khó khăn đó cũng không dập tắt được tình yêu nghề luôn khát khao cháy bỏng trong mỗi con người ở các nghệ sĩ xiếc. Và nghệ sĩ xiếc Ngô Thị Tuyết Hoàn - Phó trưởng đoàn xiếc 2 - Liên đoàn Xiếc Việt Nam, cũng là một trong những nghệ sĩ luôn vươn lên vì tình yêu nghề Xiếc, mặc kệ cho những đau đớn của cơ thể vẫn từng phút giày vò chị.

Ngô Thị Tuyết Hoàn là một nghệ sĩ thành công ở tuổi đời khá trẻ, khi mới kết hôn được vài tháng, trong quá trình tập luyện một chương trình mới để ra mắt công chúng thì chị bị tai nạn thương tâm. Vụ tai nạn đó tuy không cướp đi sinh mạng của chị nhưng lại cướp đi đôi chân lành lặn mà tạo hóa và bố mẹ đã ban cho chị. Vụ tai nạn vô tình tưởng chừng như cướp đi mọi ước mơ và những hoài bão của một người trẻ tuổi như chị nhưng bằng tình yêu thương, san sẻ, động viên của người chồng mới cưới, của bạn bè đồng nghiệp chị Hoàn đã gạt nước mắt đứng lên. Bỏ qua nỗi đau bị liệt nửa người, chị tấp tểnh cho những bước đi đầu tiên không bằng đôi chân của chính mình. Những khó khăn phía trước, người nghệ sĩ 37 tuổi này với 20 năm trong nghề đã có những huy chương thành công, được khen tặng đã bắt đầu lại tình yêu, đam mê nghề Xiếc của mình bằng một... chiếc xe lăn.

Gặp chị trong một buổi chiều Thu, chị kể cho chúng tôi nghe về những ước mơ và tai nạn thương tâm của chị nhưng lại gần như là thường thấy ở các nghệ sĩ đi theo ngành xiếc. Chị cho rằng, đam mê nào cũng cần đánh đổi, nhưng có lẽ đánh đổi bằng cả cuộc đời của mình thì ít có người nào đủ dũng cảm để xóa bỏ đi điều đó để thực hiện tới cùng những đam mê.


Những khó khăn không làm chị rời bỏ đam mê của chính mình

Sinh ra trong một gia đình không có truyền thống về nghệ thuật, lại càng không có ai theo ngành xiếc nhưng cô gái Ngô Thị Tuyết Hoàn đã bị "bén duyên" từ hồi nhỏ khi trốn bố mẹ đi xem xiếc đu dây ở gần nhà. Nhìn những nghệ sĩ cứ nhào lộn trên không trung, mang theo cả ước mơ, cả khát vọng và cả sự ngưỡng mộ của cô bé chỉ có vài tuổi đó. Là một cô gái dân tộcMường sống ở vùng cao, không được tiếp xúc đủ đầy với những đồ nghề phục vụ cho ước mơ của mình. Chị Hoàn chỉ biết tập luyện bằng trí nhớ non nớt của một cô bé 7- 8 tuổi khi được rảnh rang một chút thời gian khi xong việc nhà. Chị tập luyện bằng những đồ vật kiếm được như cái chai nhựa, quả bưởi hay những chiếc dây thừng được vắt ngang qua thân cây. Năm 11 tuổi, chị một mình trốn bố mẹ xuống Hà Nội để đăng ký thi thử khi nghe tin trường Xiếc tuyển sinh. Có lẽ ông trời đã "vận" vào người chị cái "nghiệp" của ngành xiếc, nên bằng nỗ lực của mình chị đã được trúng tuyển ngay kỳ thi năm đó.

Quá bất ngờ với thành công bước đầu của mình, chị vừa đăng ký theo học, vừa vất vả kiếm sống để trang trải cuộc sống của mình. Lúc đó, chị đã thú nhận với bố mẹ những đam mê của mình và khát khao được đứng trên sân khấu biểu diễn trước hàng vạn người. Sau nhiều lần thuyết phục, bố mẹ chị cũng đã đồng ý cho chị theo nghề nhưng với điều kiện chị phải tự lo được cuộc sống của chính bản thân mình. Những khó khăn bước đầu cũng không làm chị nản chí, chị dần dần học được những kỹ thuật điêu luyện, khó khăn ở mỗi bài biểu diễn. Và thành công nối tiếp thành công, khi những huy chương, những tràng pháo tay cũng như phần biểu diễn của mình luôn được kỳ vọng và trông đợi nhất hàng đêm đã được chị phát huy tối đa khả năng của mình để hoàn thành, để cống hiến. Là học sinh khóa 11 năm học 1989 - 1994 Trường Xiếc Việt Nam, Tuyết Hoàn tốt nghiệp loại ưu và được nhận về công tác tại LĐXVN từ đó cho tới nay. Với 36 tuổi đời và gần 20 năm tuổi nghề, Tuyết Hoàn đã tham gia vào rất nhiều chương trình biểu diễn tiêu điểm của LĐXVN ở nhiều thể loại, nhiều tiết mục nghệ thuật xiếc khác nhau tại các buổi biểu diễn ở trong và ngoài nước. Đỉnh cao nhất là chị đã đạt được Huy chương vàng liên hoan Xiếc toàn quốc lần thứ 3 năm 1995.

Niềm vui tưởng chừng cứ thế được nâng lên, khi đến năm 2013 cô gái Tuyết Hoàn đã kết hôn cùng đồng nghiệp của mình là Nguyễn Đức Tài sau... 10 năm quen biết và tìm hiểu. Nhưng niềm vui chẳng tày gang, chỉ ba tháng sau, trong một lần luyện tập đu dây võng đôi cùng chồng của mình, Tuyết Hoàn đã gặp tai nạn và bị rơi tự do ở khoảng cách khá cao xuống đất. Vụ tai nạn đó tuy không cướp đi mạng sống của chị nhưng đã cướp đi đôi chân lành lặn của chị. Từ khi đó với chấn thương nặng, Tuyết Hoàn đã không còn phản xạ và không có cảm giác gì ở dưới chân. Ước mơ với nghề đã vỡ vụn, có những lúc tưởng chừng chị có thể chết đi để không còn đặt gánh nặng lên vai người chồng mới cưới, không còn những giọt nước mắt nuối tiếc với nghề, không còn bắt gặp những cái nhìn thương hại về phía chị và càng không muốn đối diện những tiếng xì xào bàn tán, cái chép miệng đầy thương tâm vì thiệt thòi.

Nhưng Tuyết Hoàn đã nghĩ, dù đau khổ và mệt mỏi cách mấy cũng không bằng nỗi đau của người chồng mình. Với tình yêu của chồng, chị đã gắng gượng bước qua dưới sự giúp sức của anh. Thương vợ, chia sẻ với nỗi đau của vợ khi chật vật sống trong ngôi nhà tập thể 15m2, anh Tài đã mày mò mua nguyên vật liệu về để tạo những đường dây cho chị Hoàn tập luyện đôi chân, tạo ra những chiếc thang từ chiếc dây cho chị Hoàn tự có thể làm sinh hoạt cá nhân khi anh vắng nhà hay có buổi biểu diễn về muộn.

Chị Tuyết Hoàn đang truyền lại những đam mê, khát khao với nghề của mình cho lớp đàn em

Chia sẻ với chúng tôi, chị Hoàn cho biết: Cả hai vợ chồng đang cố gắng, chật vật với đồng lương hơn 3 triệu của anh Tài trong mọi sinh hoạt của cả hai. Mới đây, chị được Liên đoàn Xiếc Việt Nam tạo điều kiện cho chị Hoàn làm công tác giảng dạy cho lớp diễn viên trẻ tại liên đoàn, vừa để chị thực hiện ước mơ còn dang dở khi tiếp tục truyền thụ những kinh nghiệm của mình cho lớp trẻ. Vừa có đồng ra đồng vào để chăm sóc đôi chân bị liệt tủy cứ "trái gió, trở trời" lại trở nên đau nhức và tê buốt. Trong cuộc nói chuyện, chị Hoàn cũng cho biết, chị không phải là trường hợp duy nhất bị tai nạn thương tâm, mà còn có rất nhiều trường hợp khác bị gãy cổ, gãy tay, cưa chận, thậm chí còn bị chấn thương sọ não nằm liệt giường vĩnh viễn. Nhưng những điều đó, không làm cho những con người có đam mê như chị rụt rè, trái lại nó càng làm tăng sự yêu thích cũng như đam mê, thực hiện ước mơ của mình nhiều hơn mỗi lần đứng trên sân khấu.

Chị Hoàn đã cho rằng: "Với các nghệ sĩ xiếc, mọi vinh quang, mọi huy chương đều được đánh đổi, thậm chí cả mạng sống nhưng không phải vì thế mà tất cả mọi người đều quay lưng lại với nghề, đều rũ bỏ những ước mơ của chính mình. Dù đã bị liệt, nhưng với niềm đam mê thì mình vẫn muốn đứng lên, góp một phần sức mình vào nghệ thuật, vào sự thành công của liên đoàn Xiếc Việt Nam. Đưa ước mơ của mình truyền cho đam mê của đàn em lớp dưới, đó là khao khát cả đời của chị để chị được cống hiến và hết lòng với nghệ thuật mà mình đã dâng tặng".

Chia tay vợ chồng chị, chúng tôi mang về một nỗi niềm đau đáu của các nghệ sĩ xiếc, nặng nhọc với nghề, nguy hiểm với nghề bằng những giọt mồ hôi, bằng nước mắt, bằng những tai nạn thương tâm nhưng để có được những tràng pháo tay của khán giả. Nhưng ít ai biết được, đằng sau sân khấu cánh gà là cả một niềm đau đáu với nghệ thuật, một niềm mong mỏi được cống hiến và được "đối xử công bằng" trong một một nghệ thuật có sự nguy hiểm cao như môn nghệ thuật Xiếc này.

Nguồn: Một thế giới

Cô gái họ Ngô "đánh đổ" Guillaume Graechen

Cái tên Guillaume Graechen ngày càng trở nên quen thuộc với người hâm mộ Việt Nam sau màn trình diễn rất thuyết phục của U19 Việt Nam tại giải U19 ĐNÁ mở rộng mới kết thúc ở Mỹ Đình.

Từ việc bị nghi ngờ chỉ có trình độ của một “ông giáo”, Guillaume Graechen cho thấy anh hoàn toàn có thể chinh phục khán giả trong vai trò một chiến lược gia với bóng đá trẻ.

Ngay sau giải đấu U19 ĐNÁ và chuẩn bị cho VCK U19 Châu Á diễn ra vào tháng 10 tới, Guillaume Graechen lại càng khiến người hâm mộ Việt Nam vui mừng khi tuyên bố sẽ chính thức nhập quốc tịch Việt Nam. Guillaume Graechen đủ điều kiện để có tấm hộ chiếu màu xanh bởi ngoài việc đã ở Việt Nam hơn 7 năm ròng rã, anh đã xây dựng tổ ấm với một người con gái Việt.

Guillaume Graechen cùng gia đình.

Bị con gái Bình Định hạ gục

Guillaume Graechen ở Việt Nam đã sang năm thứ 7, anh chịu khó học tiếng Việt và có lẽ cách học nhanh nhất chính là việc dùng tiếng Việt để “cưa đổ” một cô gái Việt.

Người Pháp có câu: ‘Tình yêu của người đàn ông đi qua dạ dày”. Điều này có vẻ đúng với Guillaume Graechen. Anh phải lòng một cô đầu bếp ngay ở học viện HAGL Arsenal. Ngô Thị Loan - người con gái Bình Định không có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành nhưng nhìn đôn hậu, đằm thắm đã đánh gục chàng trai lãng mạn đến từ nước Pháp. Con gái Bình Định giỏi võ. Có câu: “Ai về Bình Định mà coi. Con gái Bình Định đánh roi đi quyền”. Loan không cần đánh roi, đi quyền, cô đến với Guillaume Graechen bằng tình yêu chân thành, bằng những món ăn Việt Nam và rồi… đánh gục anh. Thật ra, ngoài bóng đá, Guillaume Graechen thích nấu ăn, anh nói là do ảnh hưởng từ mẹ anh - một phụ nữ Pháp luôn đặt sự chăm sóc chồng con lên hàng đầu. Graechen nhìn thấy và nhận thấy ở Loan điều ấy.

Ngày ra mắt nhà vợ, Guillaume Graechen không khỏi bỡ ngỡ, lo lắng. Thế nhưng “cái bản mặt” hiền lành, cộng với chút vốn tiếng Việt đã giúp anh chiếm trọn tình cảm của nhà gái. Sau mấy năm lấy nhau, Guillaume Graechen và Loan đã có hai mặt con. Năm 2012, vợ chồng vị HLV người Pháp đón đứa con trai đầu lòng và đặt tên là Phi Long (Graechen nói là để kỷ niệm năm… rồng Nhâm Thìn), tên Pháp là Leito Graechen. Tháng 8.2013, hai vợ chồng đón thêm “công chúa” có tên Melita. Nhắc đến cậu cả, Graechen không giấu được tự hào, anh nói: “Có lẽ Leito Graechen có gen bóng đá của tôi, nó có tình yêu đặc biệt với trái bóng. Thế nhưng có thể trở thành cầu thủ hay không lại là chuyện khác. Nói thật là tôi mong con trai tôi trở thành cầu thủ”.


Trở thành người Việt Nam

Ông nội của Guillaume Graechen đã từng tới Việt Nam trong cuộc chiến tranh Đông Dương của Pháp. Thế nhưng, Graechen lại không có cơ hội để tìm hiểu về đất nước Việt Nam qua ông nội thậm chí khi còn làm việc ở Thái Lan trong vai trò là giáo viên học viện JMG Thái Lan, Graechen còn không biết “Việt Nam nằm ở chỗ nào ở Châu Á”. Song khi nhận lệnh đến Việt Nam, anh sẵn sàng và không ngờ đó chính là bước ngoặt trong cuộc đời mình.

Thật sự thì Graechen không được biết đến nhiều, anh âm thầm làm việc như một giáo viên mẫn cán ở HAGL - Arsenal JMG, chăm lo cho từng đứa nhỏ kỹ chiến thuật trên sân tới bữa ăn, giấc ngủ. Nhiều cầu thủ như Công Phượng, Tuấn Anh, Đông Triều xa nhà lên phố Núi học bóng đá từ khi 11-12 tuổi, cái tuổi vẫn khóc nhè và đái dầm thì đã có Graechen bên cạnh. Sự chăm sóc của anh khiến bọn trẻ cảm động và gọi với cái tên thân mật “bố Giôm”.

Lẽ ra nhiệm kỳ của Guillaume Graechen sẽ kết thúc trong năm nay, thế nhưng ông bầu Đoàn Nguyên Đức đã quyết định mời Guillaume Graechen thêm một nhiệm kỳ nữa. Trong chuyện này không chỉ vì bầu Đức “mến mộ” Graechen mà còn là muốn anh trở thành công dân Việt Nam, muốn gia đình anh định cư tại đây.

Với sự giúp đỡ về tài chính của bầu Đức, Graechen đã cùng vợ quyết định ở lại Pleiku để định cư. Họ đã mua một mảnh đất rộng hơn 100 mét vuông tại ngoại ô Pleiku để xây nhà. Gọi là dinh thự nhưng rõ ràng đây là một tổ ấm lý tưởng với sân vườn bao quanh nằm giữa một không gian thoáng đãng.

Trong sự vui mừng của người hâm mộ về sự tiến bộ của tuyển U19 Việt Nam, Graechen đã chứng tỏ tình yêu với quê ngoại bằng cách xin nhập tịch Việt Nam. Trong hồ sơ xin nhập tịch, Graechen chọn cái tên Đoàn Guillaume Dương, họ Đoàn là để tri ân với Chủ tịch HAGL Đoàn Nguyên Đức.

Khi bầu Đức tuyên bố có thể sẽ để U19 VN chơi ở V.League thì cũng chẳng loại trừ Đoàn Guillaume Dương sẽ chính thức trở thành HLV trưởng của HAGL trong một vài mùa tới. 

Nguồn: báo Lao Động

Thứ Hai, 15 tháng 9, 2014

Một con người, một ngành, một lĩnh vực đã thế. Một đất nước càng không thể tránh khỏi. Nhưng đất nước đó, nhất định cũng sẽ đi về phía ánh sáng, nếu can đảm và chấp nhận... đau đớn.

I - Những năm tháng này, nước Việt đang đứng trước muôn vàn thách thức. Nhưng trung tâm của mọi câu chuyện bàn luận trong xã hội, từ thì quá khứ đến thì tương lai, là làm sao để nước Việt có thể thoát khỏi tụt hậu, chấn hưng dân khí, dân trí. Để đôi chân nước Việt vốn bị lực hút của tư duy bảo thủ, trì trệ xơ cứng, có thể bước nhanh trên hành trình hội nhập thế giới văn minh ở ngay thì hiện tại.

Một đất nước mà số phận có quá nhiều bi thương bởi chiến tranh chống ngoaị xâm, bởi sự ấu trĩ về nhận thức, và sự khắc nghiệt của vị thế địa lý- chính trị.

Không tìm tiếp con đường phát triển sao được? Bởi mặc dù nước Việt đã can đảm đổi mới cơ chế quản lý vào những năm 80, đem lại sự khởi sắc về chất lượng cuộc sống xã hội, khiến người dân từng tràn trề niềm vui, thế giới chú ý, hy vọng VN “hóa rồng”. Nhưng “con rồng” VN đến hôm nay vẫn đang … ngủ say, dù nước Việt đã và đang trằn trọc đánh thức.

Bởi những thông tin kinh tế nước Việt do các tổ chức kinh tế thế giới mới đây đo lường và thông báo, cho thấy nước Việt đang đứng ở  gần… cuối bảng của sự phát triển giữa các quốc gia. Đó là một nỗi lo ám ảnh.

Dưới đầu đề “Việt Nam tiến chậm, các đối thủ bay nhanh” (VietNamNet, ngày 07/9) cho biết, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu (GCI) 2014-2015. Những công bố của diễn đàn này khiến nước Việt thêm một lần nữa buộc phải “ngắm mình”, không thì sẽ… chẳng hay đâu (mượn ý thơ của Tố Hữu)

Một điểm nổi bật là năng lực cạnh tranh của các nước Đông Nam Á tăng khá ấn tượng. Philippines tăng 07 bậc lên vị trí 52; Thái Lan tăng 06 bậc lên vị trí thứ 31; Malaysia tăng 04 bậc lên vị trí 20; Indonesia tăng 04 bậc lên vị trí thứ 34. Trong khi đó, Việt Nam chỉ tăng 02 bậc, lên vị trí 68 (năm ngoái, vị trí 70). Singapore tiếp tục duy trì vị trí á quân trong bảng xếp hạng tổng 144 nước trên toàn thế giới.

Vòng nguyệt quế về nội lực, có lẽ xứng đáng được đặt trên vầng trán Philippines- một đất nước mà nền kinh tế có nhiều tiến bộ nhất kể từ năm 2010. Liên tục phải đối mặt với siêu bão, bị mất trắng hàng chục tỷ USD, nhưng đất nước này đã chứng tỏ cho thế giới nghị lực phi thường của chính mình. Một dân tộc đã không “vịn” vào thiên tai, ngược lại, biết “vịn” vào chính con người, sự đúng đắn của chính sách, sự nỗ lực của người dân, để đứng lên, đi qua đói nghèo, dốt nát và tụt hậu.

Trong khi đó, xét về thứ hạng, VN có nhích nhắc, tuy nhiên, chỉ số GCI của VN không được cải thiện, vẫn chỉ 4,2/7 điểm. Chưa kể các năm trước đó, VN đã bị tụt khá nhiều bậc, từ 59/139 năm 2010, xuống 65/142 trong năm 2011, so với vị trí 68/144 hiện nay. Trong khi đó, khu vực châu Á- Thái Bình Dương được báo cáo đánh giá là khu vực năng động.

Hay “Con rồng” VN còn đang cơn mơ ngủ?

Cải cách, đổi mới, thay đổi, tái cơ cấu..., là hàng loạt các khái niệm được các chuyên gia, nhà quản lý đưa ra, sốt ruột, lo lắng trước bước đi chậm mà cũng… không chắc của nước Việt. Tại cuộc đối thoại trực tuyến ngày 09/9 mới đây với Tuần Việt Nam, GS Vũ Minh Khương nhìn nhận, VN đang ở thời điểm mấu chốt phải thực hiện cải cách để đất nước lớn lên. Lộ trình đó phải bắt đầu với một chiến lược và một chương trình hành động với những điểm cụ thể có thể làm được. Chỉ như vậy mới tạo ra niềm tin và xúc cảm, khắc chế dần tình trạng nghi kỵ lẫn nhau.

Nhưng cải cách để chấn hưng và phát triển cũng là một cửa “vũ môn”, thách thức tất cả các nước đang phát triển, chậm phát triển, không riêng gì VN.


Dù vậy, theo các chuyên gia, các nhà nghiên cứu về các cuộc cải cách của nhân loại, xu hướng cải cách của khu vực các nước đang phát triển, thì từ xưa đến nay, đã trải qua bốn loại hình CC cơ bản. Đó là CC kinh tế, CC chính trị, CC văn hóa và CC giáo dục. Mục đích nhân bản nhất của các cuộc CC không hẹn mà gặp này, là đều hướng tới đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu, hướng tới sự phát triển văn minh, văn hóa. Tuy nhiên cũng có một điều… không hẹn mà gặp khác - hầu hết các cuộc CC đều thất bại. Vì sao?

Theo chuyên gia Nguyễn Trần Bạt, khi nhìn lại các cuộc CC không thành công ở nhiều quốc gia như Indonexia, Thailand, Argentina, Mexico và Brazil, các cuộc CC ở các quốc gia đó đều có chung 03 nhược điểm. Đó là tính tình thế, tính nửa vời và thiếu tầm nhìn.

Tính tình thế của loại hình CC kinh tế ở các nước đang phát triển thể hiện ở chỗ, CC kinh tế được tiến hành bởi sức ép bắt buộc của các tổ chức quốc tế, các hiệp định song phương hoặc đa phương, mà chưa phải là cuộc CC tự thân nội lực đòi hỏi để phát triển.

Tính nửa vời thể hiện ở chỗ các quốc gia này chỉ dừng lại ở cải cách thể chế kinh tế, tập trung đổi mới thể chế kinh tế cũ mà không quan tâm đến chiến lược phát triển các lực lượng kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh sòng phẳng mang tính toàn cầu. Và quan trọng hơn, là không gắn liền cải cách thể chế theo hướng tiệm cận nền dân chủ.

Thiếu tầm nhìn, thường thể hiện rõ nhất ở loại hình CC giáo dục. Nền GD các quốc gia này không coi con người là trung tâm của quá trình GD, các nhà CCGD tách rời đời sống hiện thực, vừa không có kinh nghiệm thực tiễn, vừa không có năng lực dự báo tương lai.

Vậy, điều kiện nào bảo đảm các cuộc CC thành công? Chuyên gia Nguyễn Trần Bạt cho rằng, đó là yếu tố đồng bộ. Theo nghĩa, chính là sự xuất hiện đúng lúc, đúng thời điểm của mỗi cuộc CC trong sự kết hợp hữu cơ, nhịp nhàng giữa các cuộc CC đó.

Ảnh: doanhnghiep.vn

Soi vào “tấm gương” 03 nhược điểm lớn của các loại hình CC mà các quốc gia trên thế giới đã tiến hành, có thể thấy hành trình đi lên của nước Việt có những điểm “nhang nhác”, nhưng cũng có những điểm khác biệt rất rõ.

Như một quy luật tất yếu của sự vận động để phát triển, nước Việt nhiều năm nay rục rịch bàn tới rất nhiều về sự đổi mới. Mà tái cơ cấu kinh tế, CC hành chính, CC tư pháp, CCGD… bỗng không hẹn đều gặp nhau, hướng tới thay đổi chất lượng phục vụ dân sinh, đáp ứng đòi hỏi của thời cuộc và đất nước.

Tái cơ cấu kinh tế, về bản chất cũng có thể coi là một sự CC về tổ chức, cấu trúc lại các tập đoàn, các DNNN, cổ phần hóa để tạo ra sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, không ỉ vào thế lực “con đẻ” của Nhà nước như trước. Cũng tức là từng bước tạo ra môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh sòng phẳng, để các tài năng kinh doanh có điều kiện thỏa sức.. chí làm trai.

Tái cơ cấu kinh tế không chỉ là điều kiện cho kinh tế thị trường được trả lại tên cho em một cách đúng nghĩa, một điều kiện cho VN sắp sửa tham gia TPP (Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương), mà đây cũng chính là đòi hỏi bức bách của sự tăng cường nội lực nước Việt. Đã đến lúc nền kinh tế thị trường phải tạo ra một sân chơi sòng phẳng, bình đẳng cho các khu vực, các thành phần kinh tế trổ tài. Chứ không thể là một sân chơi kiểu “vũ hội hóa trang”, cho các DNNN núp bóng Nhà nước để chỉ làm lợi cho một nhóm nhỏ lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, bất cần đất nước tụt hậu, và đời sống dân khốn khó ra sao.

Đó cũng là một sự… sòng phẳng lịch sử.

Gắn liền với công cuộc tái cơ cấu kinh tế, không thể không có sự CC về cơ chế quản lý, CC nền hành chính, nền tư pháp nhiều khuyết tật, cũng như CCGD- lĩnh vực quan trọng nhất tạo nguồn nhân lực tương lai cho nước Việt. Nhưng làm thế nào để các cuộc CC đó thành công?

Hóa ra, những bài học cay đắng của năm xưa, về nông nghiệp, nhưng vẫn vô cùng bổ ích cho những cuộc CC tương lai của nước Việt. Đó là tư duy nước Việt phải mềm dẻo, sáng suốt, nhận thức đúng những giá trị văn minh, văn hóa mang tính phổ quát của nhân loại để tiến hành CC theo hướng tiệm cận dân chủ, tránh giáo điều, xơ cứng, ấu trĩ, đã từng khiến cho quá khứ nước Việt tổn thương, rơi nhiều nước mắt.

***************

II - Và cho dù tái cơ cấu kinh tế còn rất chậm, vẫn có những con người dũng cảm, cách đây hơn 20 năm, đã dám đi tiên phong tự “phủ định sự độc quyền” của tập đoàn kinh tế mà mình là thống soái. Câu chuyện của vị quan chức đó khiến cho người viết bài và bạn đọc của Tuần Việt Nam thực sự trân trọng. Đất nước này đang rất cần những tập đoàn kinh tế biết tự “phủ định mình” như thế, để nền kinh tế nước Việt có thể tự … khẳng định chính mình.

Đó là câu chuyện của ông Mai Liêm Trực, nguyên Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông, người đã mở cửa ngành BCVT, xóa thế độc quyền của chính ngành mình.

Thực sự, ông hoàn toàn có thể ăn ngon ngủ yên trên vị thế quyền lực của mình- Tổng Giám đốc VNPT năm 1995, giai đoạn mà ngành BCVT đang ăn nên làm ra, lại là ngành đi đầu trong việc tiếp cận với cái mới- đưa công nghệ số hóa vào VN, tạo ra những bước tiến vượt bậc, trong khi hơn 90% thế giới vẫn đang dùng công nghệ cũ.

Cái mới bao giờ cũng có mãnh lực hấp dẫn.

Nhưng “cái mới”- xóa độc quyền - lại không hề chiếm được thế thượng phong, nơi mà sự độc quyền kinh doanh luôn mang lại lợi ích nhóm. Vì thế, cái mới này đi vào nền kinh tế thị trường nước Việt quả là vất vả, long đong. Cũng vì thế, công bằng mà nói, sự đổi mới, thay đổi của các tập đoàn, DNNN, trong đó có ngành BCVT không thể tách rời bước đi chung của kinh tế đất nước.

Ảnh: Vũ Điệp

Đó là khi áp lực đổi mới ngành này, giống như quy luật vận động của các quốc gia tiến hành CC kinh tế, mà chuyên gia Trần Bạt đã tổng kết ở trên, còn được tác động bởi ngoại lực- Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ đang đàm phán để ký kết, VN chuẩn bị tham gia WTO.

May mắn với ông Mai Liêm Trực, là khi đó ông có được chỗ dựa từ những nhà lãnh đạo lớn có tư duy thực sự cởi mở, mềm dẻo, nhạy bén luôn ủng hộ cái mới, với tầm nhìn xa trông rộng, đã ủng hộ ông, ủng hộ việc mở cửa ngành BCVT.

“Vật cản” đáng sợ, không phải chỉ là tâm lý tiếc nuối thời kỳ vàng son, mà với ông, còn là những ý kiến, tư tưởng giáo điều- không cẩn thận sợ mất cả CNXH . Người viết bài bỗng nhớ câu đùa hóm hỉnh của GS Hồ Ngọc Đại: Nhiều vị không sợ mất vợ, mà chỉ sợ “mất lập trường”

Cái nỗi sợ không hề mơ hồ đó, đã từng ngự trị trên ngai vàng tư duy, khiến cho không ít người nhụt trí, khiến cho những người bảo thủ, ngại đổi mới, sợ đổi mới có điểm tựa vững chắc.

Nhưng ông đã dám bước qua lời nguyền bảo thủ vô lý. Bởi lợi ích cho người dân, cho sự phát triển vẫn mạnh hơn lời nguyền xơ cứng, và trì trệ nhân danh. Dù chính ông thú nhận, cũng phải  mất một chút thời gian để thích nghi với tư duy mới đó.

Giã từ “vũ khí quyền lực” giờ trở về đời sống thường dân, ông bảo ông có một niềm hạnh phúc rất giản dị. Đó là mỗi ngày mở cửa bước ra đường, thấy anh xe ôm, chị đồng nát, cô bán rau trước cửa nhà đang cầm chiếc điện thoại trò chuyện với ai đó.

Những lúc như thế càng củng cố niềm tin chắc chắn rằng quyết định xóa bỏ độc quyền trong ngành Bưu chính Viễn thông (BCVT) là đúng đắn.

Nhưng có niềm thanh thản thì cũng có không ít điều day dứt. Khi ông đặt câu hỏi: Có nhiều người, đặc biệt đứng đầu các bộ, ngành độc quyền luôn miệng nói rằng thị trường viễn thông, xăng dầu, điện lực… là những lĩnh vực nhạy cảm, nên cần có thời gian để xóa bỏ độc quyền. Chúng ta đã tiến hành cổ phần hóa 20 năm nay rồi mà mọi việc vẫn bộn bề. Và nếu nói là nhạy cảm, thì còn gì nhạy cảm hơn thị trường gạo? Nhưng sự thật thị trường gạo đã tự vận hành rất tốt đó thôi. Thế mà chúng ta thì lại quá mất thời gian với việc thảo luận… tào lao. Trong khi việc đáng làm thì không làm.  

Ai có thể trả lời câu hỏi này cho ông nhỉ? Chả lẽ, các lợi ích nhóm?

Người viết bài tâm đắc nhất câu nói này của ông: Không có bất cứ sự độc quyền nào là tốt cả. Vì cạnh tranh là động lực để phát triển xã hội. Phải mở cửa dân mới được nhờ. Không mở cửa dân chỉ có thiệt.

Có một câu triết lý sâu sắc: Thà đốt lửa lên còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối.

Đã có nhiều người không muốn đốt lửa, lại còn yêu thích bóng tối- bóng tối của sự độc quyền.

Còn ông, ông đốt lửa, và đi về phía ánh sáng.

Để dân tộc phát triển, sự thay đổi là can đảm và… đau đớn.

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014

“ÁC THÚ” ĐANG RẤT NHIỀU


Tôi vừa từ Sài Gòn ra Hà Nội trên chuyến bay của Vietnam Airlines lúc 14h40 ngày 14-9-2014. Những tờ báo phục vụ hành khách trên máy bay đều có bài viết về vợ chồng đôi vợ chồng ở Bình Dương đánh đập dã man con gái 4 tuổi. Nhìn cháu ảnh cháu Đỗ Thị Kim Ngân bị bố mẹ hành hạ đến biến dạng, người phụ nữ ngồi bế bên buột miệng “Đồ ác thú”.
Đúng là ác thú.
“Hỗ dữ không ăn thịt con” nên hành vi của Đỗ Trọng Minh (27 tuổi, ngụ TP Biên Hoà, Đồng Nai) và Nguyễn Thị Thuỳ Trang (26 tuổi, quê Vĩnh Long) là ác thú “lũy thừa”. Họ chính là ác thú.
Rồi pháp luật sẽ “nói chuyện” với họ.
Rồi nếu như lúc nào đó, chút lương tâm con người nếu còn, được “đánh thức” thì đôi vợ chồng này sẽ ân hận.
Đáng tiếc, tình trạng ngược đãi trẻ em ở Việt Nam đang không còn là cá biệt.
Ngược đãi trẻ em là thuật ngữ dùng chung để diễn tả các hành vi bóc lột, xâm hại, xao nhãng gây tổn hại cho trẻ em và có thể chia thành 2 nhóm xâm hại và xao nhãng. Theo số liệu của Bộ Công an, trong 10 năm qua số vụ xâm hại trẻ em, số đối tượng phạm tội và số trẻ em bị xâm hại có chiều hướng gia tăng nhất là số vụ xâm hại tình dục trẻ em. Theo đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em những năm gần đây trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực trong gia đình tăng gấp 3 lần, ở cộng đồng tăng gấp 7 lần, trong trường học tăng 13 lần.
Vụ việc vừa xảy ra ở Bình Dương, chỉ là vụ mới nhất, cũng chưa phải là vụ đau lòng nhất.
Vì sao?
Có nhiều nguyên nhân, nhưng các chuyên gia pháp luật đánh giá dưới góc độ pháp luật thì: tuy hệ thống pháp luật, chính sách, pháp luật nhà nước ta về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được điều chỉnh, bổ sung để đáp ứng những vấn đề nảy sinh và ngày càng hài hòa với Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em, nhưng còn thiếu quy định ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình và các cá nhân trong việc bảo vệ trẻ em; tác dụng phòng ngừa các hành vi xâm hại, bạo lực đối với trẻ em của pháp luật chưa cao; cơ cấu tổ chức, các thủ tục và quy trình phòng ngừa, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em  bị xâm hại, bạo lực chưa được quy định rõ ràng.
Như vậy, ngoài các giải pháp để bảo vệ trẻ em về mặt chính trị, tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, cần phải thực hiện ngay các giải pháp về pháp luật.
Đó là phải tiếp tục điều chỉnh, bổ sung pháp luật, chính sách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em cho phù hợp với tình hình mới. Tăng khả năng phòng ngừa xâm hại trẻ em bằng pháp luật, chính sách. Xem xét bổ sung một chương riêng trong luật bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em về phòng, chống xâm hại, bạo lực đối với trẻ em. Và cuối cùng, cần phải tăng nặng khung hình phạt đối với loại tội phạm hành hạ người khác (Điều 110 Bộ luật HS), ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 Bộ luật HS).
Bảo vệ trẻ em gần như là một trong những đặc điểm để nhận dạng về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 
Vậy nên không thể chấp nhận các hành vi hành hạ, ngược đã trẻ em. 
Phải có cách để loại trừ loại ác thú này ra khỏi đời sống xã hội.
Ấc thú đang quá nhiều bà con ơi?!

Nguồn: Báo Pháp luật Việt Nam, số thứ 2, ngày 15-9-2014

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

Một nửa sự thật bao giờ cũng là dối trá

Hà Nội đang có một cuộc triển lãm nhỏ, một cuộc triển lãm không có gì đồ sộ về quy mô, chỉ 150 hiện vật, trong một phòng trưng bày không lớn, về một thời gian lịch sử chưa xa, mới 60 năm. Nhưng nó đang gây những cơn sóng không nhẹ trong ký ức nhiều thế hệ công chúng, không chỉ những người từng là nhân chứng. Vì nó là triển lãm Cải cách ruộng đất.


Trong hàng triệu người quan tâm đến cuộc triển lãm nhỏ bé này có mẹ tôi. Bà là một phụ nữ có trí nhớ khá lạ lùng. 20 năm nay, bà vẫn nhớ những gì đã xảy ra từ 40 năm trở về trước. Trong mỗi bữa cơm gia đình, nhất là những ngày giỗ chạp, lễ Tết, câu chuyện của bà cuối cùng thế nào cũng xoay về “cái hồi cải cách”.

Mẹ tôi nhớ rành rọt ngày ấy, tháng ấy, mùa đông năm ấy, bà ngoại mặc áo kép màu gì, đang vừa cho con bú vừa chia lộc cúng rằm cho mấy người đến nộp tô thế nào; ông đang đọc sách uống trà trên cái ghế nào thì “đội” đến thị uy ra sao, người ăn kẻ ở trong nhà đột nhiên hỗn láo thế nào với các cụ. Mẹ tôi nhớ đến từng củ khoai lang gày gò như đốt tay mà người họ hàng xa lén lút dúi cho khi mẹ bế em đói gần lả đứng đầu ngõ. Mẹ nhớ cái dáng nhẫn nại của ông ngoại cúi gằm xuống trên cái sân gạch bỏng rát nghe đấu tố. “Tội nghiệp, ông cả đời chỉ đọc sách và đi làm việc công, ruộng cả ao liền, tiền bạc trong nhà bà lo hết, cách mạng bảo ông đưa bao nhiêu, ông lại về khảo bà, bà lại dúi cho, ông biết gì là bóc lột đâu mà khai”. Mẹ nhớ từng cái sập lim, từng cái rương, từng cái áo cánh hoa lý, đôi xà tích bạc của cụ cố, của ông bà đã theo chân “đội” phát tán khắp làng trên xóm dưới.

Trong ký ức của một cô bé 10 tuổi là mẹ tôi khi ấy, cải cách ruộng đất là cả một nỗi buồn mênh mang u ám trùm lên suốt thời thơ ấu. Bằng cớ rõ nhất là ký ức của mẹ hình như dừng lại từ “cải cách”, những dấu mốc thời gian về sau không len được vào bộ nhớ của mẹ.

Nhưng cũng thật kỳ lạ là khi chúng tôi hỏi: "Sao mẹ suốt ngày kể về cải cách, mà thỉnh thoảng có người ở quê ra, nào khám chữa bệnh, nào đi thi đại học, nào xin việc, toàn là con cháu của những người ngày xưa đấu tố ông bà, sao mẹ vẫn niềm nở mời ở lại, nấu nướng cho ăn, dúi tiền tàu xe, quà cáp khi về? Sao mẹ không cấm cửa họ? Nhớ lâu thế sao mẹ không ghét?".

Câu trả lời nhẹ nhõm bất ngờ: “Thì toàn họ hàng làng xóm cả, không gần thì xa, ghét họ thì về quê còn nhìn ai nữa? Mình bị trời bắt phải nhớ thì cứ nhớ thế thôi, chứ cũng nên thương họ, lúc ấy, bảo họ làm thế nào thì họ làm, họ có nhận thức được như thế là bạc, là ác, là sai trái đâu”.

Khi chúng tôi trưởng thành, đi làm, tiếp xúc xã hội, quen biết thêm rất nhiều nhân chứng của cải cách, chúng tôi bắt đầu hiểu cái cuộc cách mạng long trời lở đất về tư liệu sản xuất những năm 50 của thế kỷ trước trên khắp vùng nông thôn miền Bắc - Trung bộ ấy không chỉ là ký ức buồn của những cô bé như mẹ tôi. Nó có thể là nỗi cay đắng của hàng chục nghìn gia đình từ đủ ăn đủ mặc đến tài sản “cò bay thẳng cánh”, nay trở nên tay trắng, nó có thể là niềm oan khuất của hàng nghìn người đã mở rộng cả tấm lòng lẫn hầu bao cho cách mạng thời tiền khởi nghĩa, thời kháng chiến rồi nhận về những xúc phạm, nghi kỵ, những đấu tố và thậm chí cả cái chết.

Nhưng nó cũng là niềm vui của hàng triệu bần cố nông khác khi lần đầu được dắt con trâu ra đồng với tư cách “chủ nhân ông”, lần đầu được cày trên thửa ruộng “của mình”, lần đầu được ăn cơm trên bộ tràng kỷ mát lạnh xa lạ mà ba đời cha ông mình không dám mơ ước, dẫu ngay mùa sau, con trâu không biết chăm đã kiệt sức mà chết, bộ tràng kỷ đã chẻ ra nấu cỗ trong một dịp liên hoan với “đội”, còn thửa ruộng chỉ sau 2-3 vụ lúa đã trở lại thành “tài sản chung” trong công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp.

Và ở phương diện khác, nó cũng là nguồn động lực không nhỏ cho những đoàn dân công hỏa tuyến, những đội Vệ quốc đoàn được thành lập vội vã từ vùng giải phóng, hào hứng băng đèo xẻ núi lên Điện Biên, tham gia vào một chiến dịch lớn chưa từng thấy trong lịch sử chiến tranh Đông dương, để rồi kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng. Những đội quân ấy ra đi, với một niềm tin lớn lao là mẹ, vợ, con họ ở nhà đã có dù chỉ một nửa hay một phần ba suất trâu cày, đã có hoa lợi từ sào ruộng giắt lưng cho qua mùa giáp hạt. Dẫu cho đến tận bây giờ, bài toán ruộng đất vẫn làm nhức nhối cả xã hội, thì ngày ấy, trong một khoảng thời gian rất ngắn ngủi, gần 10 triệu bần cố nông Việt Nam đã chạm tay vào giấc mơ ấy.

Lịch sử không bao giờ đi bằng một chân và cũng không cá nhân nào, dù mạnh đến đâu, có thể một mình đi ngược dòng chảy của nó mà không bị cuốn phăng, không bị bầm dập.

Có nhiều tư liệu đã và đang dần dần được công bố về cải cách, về nguyên nhân, mục tiêu của công cuộc này, từ nhiều phía khác nhau, cả chính thống và phi chính thống.

Cuộc triển lãm Cải cách ruộng đất nho nhỏ và chắc chắn chỉ là ban đầu này cũng đã bắt đầu gây ra những tranh cãi không nhỏ: 60 năm rồi còn khơi lại làm gì vết thương đã thành sẹo? Đã “bạch hóa” sao không bày ra cho hết, nói cho hết? Đã công nhận sai và có sửa sai, sao không công bố trọn vẹn tư liệu về kết quả, hậu quả của sai lầm? Và đã xin lỗi, sao không có chính sách ở diện rộng bù đắp cho thân nhân những người chịu oan ức?

Biết bao nhiêu câu hỏi có thể đặt từ một triển lãm bé nhỏ về một thời đau thương đã quá nửa thế kỷ. Chắc chắn chẳng cá nhân và tổ chức nào có thể đủ năng lực và thẩm quyền trả lời cũng như giải quyết ngay. Có nhiều người đã chết trong oan khuất, nhiều người có thể vẫn ôm nỗi nghẹn ngào uất hận, và cũng rất nhiều người như mẹ tôi, nhớ chỉ vì “trời bắt nhớ”, chứ chẳng giận ai, chẳng ghét ai.

Vậy thì hãy để lịch sử đã bị quên lãng hiện ra, từ từ, bằng những bắt đầu giản dị như triển lãm Cải cách ruộng đất. Người xem, dù là nhân chứng hay 2-3 thế hệ sau sẽ tự hiểu, tự đánh giá, chẳng cần nhiều lời, không thiên kiến và càng không là thù hận.

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

(NTN). Mình nghĩ giọng lưỡi của bọn này là bọn "diễn biến hòa bình", nói xấu chế độ tươi đẹp của chúng ta rồi. 
Có điều mình cứ phải "biết địch, biết ta trăm trận trăm thắng", phải tìm hiểu, lưu giữ lại tài liệu này để chiến đấu chống lại bọn chúng nó.
Thú thực, ngày cải cách ruộng đất (CCRĐ) thì mình đang là hạt bụi ở tận đẩu tận đâu, nhưng lớn lên mình có đọc trong văn học - "lề phải" thôi và nghe "hai bên ngoại": ngoại của bố và của vợ bây giờ kể nên cũng lờ mờ kinh hãi về CCRĐ. 
Bên ngoại của bố - mẹ đẻ mình vì bị ném vào "chỉ tiêu" địa chủ nên mấy anh em suýt tự tử. Bên ngoại mình thì mẹ vợ kể, vì bị quy địa chỉ: ông bà có sào ruộng, có người ở (người làm thuê) và vì ông ngoại đi biệt xứ nên còn bị quy là phản động nữa. Rất may, trong hàng tuần bị đấu tố, người ở chỉ khen ông bà bên vợ mình tốt thôi. Dù gì thì mấy anh em cũng chạy toán loạn để giữ mạng sống. May sao sau đó cách mạng mới phát hiện ra ông ngoại bên vợ nhà mình đi Điện Biên phủ, hy sinh ở chiến trường chứ chẳng phải việt gian, phản động gì sất. Và khi sửa sai CCRĐ thì vì có một bà bác chạy trốn được ra Hà Nội nên cả mấy anh em sau đó đều chạy theo về Hà Nội. Ám ảnh vì sợ hãi, họ không dám về quê nữa. 
Hu, hu...

Tòa án nhân dân đặc biệt xét xử địa chủ

Cho đến nay, Cải cách ruộng đất (CCRĐ) 1953-1956 vẫn là một trong những giai đoạn bi thương nhất trong lịch sử phát triển của đất nước. Kết quả là hàng trăm ngàn người bị bắt, giết, gia đình ly tán.

Người đầu tiên được “lựa chọn” để “xử bắn thí điểm” là bà Nguyễn Thị Năm. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, câu chuyện về bà Năm, từ khi bà bị bắn năm 1953 cho đến nay, vẫn là đề tài gây nhiều tranh cãi và còn không ít những uẩn khúc cần tiếp tục được giải mã.

CCRĐ- bi kịch của lịch sử dân tộc

Để chúng ta có thể hình dung lại, mức độ, quy mô và hậu quả của một trong những giai đoạn bi thương nhất của lịch sử dân tộc, chúng ta cùng nhau trở về thời kỳ 1953-1956.

Tháng 11 năm 1953 Quốc hội VNDCCH nhóm họp và thông qua Dự luật CCRĐ 197/HL. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê thuận và chính thức ban hành bộ luật này vào ngày 19-12-1953 để kỷ niệm ngày Toàn quốc Kháng chiến, mang tên "Luật Cải cách Ruộng đất". Đồng thời điểm này, Ủy ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đại hội Toàn quốc Đảng Lao động Việt Nam cũng họp và tổ chức chuẩn bị thi hành CCRĐ sâu rộng trên toàn lãnh thổ. Ủy ban lãnh đạo chương trình CCRĐ và hoạch định tiến trình CCRĐ được thành lập.

Hồ Chí Minh, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước phát động và làm tư tưởng chiến dịch.

Trưởng ban chỉ đạo trực tiếp là ông Trường Chinh lúc bấy giờ là Tổng bí thư Đảng. Trưởng ban chỉ đạo thí điểm khu vực Thái Nguyên là Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương đảng; Trưởng ban chỉ đạo thí điểm vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là Lê Văn Lương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và Giám đốc trực tiếp điều hành chiến dịch là ông Hồ Viết Thắng, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Chương trình CCRĐ được áp dụng qua bốn bước chính như sau:

1. Huấn luyện cán bộ

Các cán bộ tham gia CCRĐ được đưa đi học khóa Chỉnh huấn 1953 và một số được đưa đi huấn luyện tại Trung Quốc. Các chương trình học tập nhằm giúp cán bộ nắm vững đường lối của Đảng trong CCRĐ, quán triệt quan điểm: "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ". Tổng số cán bộ được điều động vào công tác là gần 50.000 người.

2. Chiến dịch Giảm tô

Bước đầu, các đội cán bộ CCRĐ đi vào các làng xã và áp dụng chính sách "3 Cùng" (cùng ăn, cùng ngủ, cùng làm) với các bần cố nông trong làng xã đó, kết nạp họ thành “rễ”, thành “cành” của Đội, sau đó triển khai chiến dịch từng bước như sau:

- Phân định thành phần: Đội CCRĐ ra mắt làng xã, và tất cả các gia đình trong xã được họ phân loại thành 5 thành phần: (a) địa chủ; (b) phú nông; (c) trung nông cứng (sở hữu 1 con bò, 1 con heo, 1 đàn gà); (d) trung nông vừa (sở hữu 1 con heo, 1 đàn gà); (e) trung nông yếu (sở hữu 1 đàn gà hay không có gì cả); (f) bần nông; (g) cố nông. Gia đình có 2 con heo đã có thể gọi là phú nông. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68% dân số nông thôn và các đoàn và đội cải cách đều cố truy bức để đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như một quy định bắt buộc, gọi là “kích thành phần”.

- Phân loại địa chủ: Tất cả các gia đình bị xếp vào thành phần địa chủ như nói trên được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành (a1) Địa chủ gian ác; (a2) Địa chủ thường; (a3) Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần địa chủ gian ác bị đội cải cách bắt ngay lập tức và quản thúc.

- Áp dụng thoái tô: Đối với các gia đình có địa chủ bị bắt nói trên, Đội cải cách thông báo với họ về các sắc lệnh giảm tô của Chính phủ, bao gồm: Sắc lệnh giảm tô xuống còn 25% vào tháng 11-1945, Sắc lệnh số 87/SL năm 1952 và 149/SL năm 1953 giảm tô thêm 25%.

(Cần nói thêm rằng, tại miền Bắc, tô hay địa tô là tiền thuê ruộng mà tá điền phải trả cho địa chủ sau mùa gặt, có thể trả bằng thóc. Căn cứ theo đó, địa chủ nào chưa giảm tô cho nông dân thì bây giờ phải trả số nợ đó - gọi là “thoái tô”. Nếu không trả đủ nợ thì tài sản bị tịch thu, phân phát do nông dân).

(Sau bước này, hầu hết gia đình địa chủ lâm vào hoàn cảnh khánh kiệt, nhiều người đến chỗ tự sát).

- Học tập tố khổ, lùng bắt địa chủ: Các bần nông, cố nông, “gốc”, "rễ" được Đội cải cách cho đi học lớp tố khổ do Đội mở, qua đó học viên được nhận dạng các tội ác của địa chủ và được khuyến khích nhớ ra tội ác của từng địa chủ đã bóc lột họ như thế nào.

- Công khai đấu tố: Ban đầu các buổi đấu tố được tổ chức, thông thường vào ban đêm (do để tránh máy bay địch oanh tạc. Sau đó được tiến hành vào ban ngày). Số lượng người tham gia đấu tố được huy động từ vài trăm đến cả ngàn người. Thời gian đấu tố từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông bước ra kể tội địa chủ đã bóc lột họ như thế nào. Tại các tỉnh có tổ chức cải cách ruộng đất đều cho ra tờ báo lấy tên là Lá Rừng (ngụ ý tội ác địa chủ nhiều như lá rừng) tường thuật chi tiết các vụ đấu tố. Sau khi bị đấu tố các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ tòa án nhân dân xét xử. Gia đình và thân nhân người bị đấu tố bị cô lập và chịu nhiều sự phân biệt đối xử thậm chí là nhục hình.

- Xử án địa chủ: Tại các huyện, một tòa án nhân dân đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, địa chủ bị xử bắn trước công chúng do đội tự vệ xã hành quyết. Những người không được xử bắn thì bị cô lập trong các làng xã.

Tổng cộng có tám đợt giảm tô từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 1.875 xã.

Khí thế đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ do Trung Quốc xúi ta làm

3. Chiến dịch CCRĐ

Nhiều tháng sau khi Chiến dịch Giảm tô được triển khai, chương trình CCRĐ chính thức bắt đầu, với hình thức tương tự nhưng trên địa bàn rộng lớn hơn. Tổng cộng có 6 đợt CCRĐ từ 1953 đến 1956, được tiến hành tại 3.314 xã.

Từ cuối năm 1954, dưới sức ép của cố vấn Trung Hoa, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Từ giữa năm 1955 ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng đấu tố tràn lan, mất kiểm soát. Từ đó đến cuối năm 1955, cảnh đấu tố địa chủ xảy ra tràn lan, nhiều lúc chỉ đơn thuần bằng một lời tố giác đơn giản, những thành viên trong tòa án nhân dân cũng có thể xử tử hình hay tù khổ sai đối với người bị tố giác. Đã xuất hiện tình trạng lạm dụng quyền hành của các cán bộ đội viên đội công tác ruộng đất trong công tác đất đai. Số người chết trong đợt này là rất lớn, trong đó số người chết oan chiếm tỷ lệ cao. Quyết liệt nhất là ở Thái Bình, nơi có đến 294 xã được đưa vào cải cách.

4. Chiến dịch sửa sai

Do nhận định chiến dịch CCRĐ giết lầm nhiều người vô tội và gây ra chống đối mạnh trong dân chúng, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ tiến hành các bước sửa sai.

Tháng 2 năm 1956, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong CCRĐ. Tháng 3 năm 1956, Quốc hội họp lần thứ 4 tường trình bản báo cáo các sai lầm và biện pháp sửa sai. Ngày 18- 8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương Đảng và Chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm. Ngày 24-8-1956, báo Nhân Dân công bố có một số đảng viên trung kiên đã bị hành quyết sai lầm trong chiến dịch CCRĐ. Tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp từ 25-8 đến 24-9-1956) nhận định các nguyên nhân đưa đến sai lầm và thi hành kỷ luật đối Ban lãnh đạo chương trình CCRĐ. Kết quả là ông Trường Chinh từ chức Tổng Bí thư Đảng, hai ông Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương ra khỏi Bộ Chính trị và ông Hồ Viết Thắng ra khỏi Chấp hành Trung ương.

Ngày 29-10-1956, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người không tham gia trực tiếp vào chương trình CCRĐ, thay mặt Chủ tịch nước đọc bản báo cáo của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại nhà hát lớn Hà Nội, kê khai sai lầm và phát động chiến dịch sửa sai, phục hồi các chức vụ tài sản cho cán bộ, bộ đội bị đấu tố.

Cũng cần phải nói thêm là chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì bị thủ tiêu trước để tránh việc trả thù.

Phong trào trả thù bằng bạo động lan rộng khiến nhà chức trách phải dùng quân đội trấn áp. Ở Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, có bản báo cáo ghi nhận 20.000 nông dân mang gậy gộc chống lại quân đội khi chính quyền dùng vũ lực để tái lập trật tự.

Tuy nhiên, theo nhiều nhân chứng mà tôi có dịp trao đổi thì việc sửa sai chỉ đơn thuần là phục hồi đảng tịch, quy lại thành phần (từ địa chủ, phú nông trở lại thành trung nông) chứ ít khi họ được trả lại tài sản, nhà đất.

Thậm chí mãi đến năm 2004 (theo báo Hà Nội Mới) thì Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội mới ra quyết định trợ cấp cho một số trường hợp bị qui sai thành phần và có tài sản bị trưng thu, trưng mua trong thời kì CCRĐ với mức ba triệu đồng một trường hợp. 

 Nguyễn Thị Năm là ai?

Bà Nguyễn Thị Năm và các con
Khi cuộc CCRĐ được tiến hành và trớ trêu thay, người đầu tiên được “lựa chọn” để bắn “thí điểm” là bà Nguyễn Thị Năm. Sau những cuộc đấu tố với đủ các thứ tội ác được gán ghép, người phụ nữ mới 47 tuổi (sinh năm 1906) này đã bị đem ra xử bắn (năm 1953) và được báo chí đương thời coi là phát súng hiệu cho một cuộc vận động “long trời lở đất”.
Vậy bà Nguyễn Thị Năm là ai?

Theo nhà sử học Dương Trung Quốc thì “Bà Nguyễn Thị Năm, hay còn gọi là Cát Hanh Long (tên hiệu trong buôn bán giao dịch của bà Năm, được ghép từ tên của hai người con trai của bà là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát-NV) sinh năm 1906 vốn là một phụ nữ giỏi làm ăn trên đất cảng Hải Phòng, từ nhiều nghề khác nhau trong đó có buôn bán sắt vụn, bà đã sớm thành đạt trên thương trường, xây nhà tậu ruộng như thói tục của người xưa vừa làm ăn nơi thành thị vừa bám sát với thôn quê, nhất là vào thời chiến tranh loạn lạc.

Người sớm giác ngộ nhà buôn trẻ tuổi Nguyễn Thị Năm chính là nhà văn Nguyễn Đình Thi tham gia Mặt trận Việt Minh ở Hải Phòng rồi sau đó bà gặp, công tác phục vụ, giúp đỡ nhiều cán bộ cách mạng. Sau này bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Hoàng Hữu Nhân (Bí thư Thành uỷ Hải Phòng), Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện...

Khó kể hết những đóng góp của nhà tư sản ấy cho cách mạng. Từng ủng hộ Việt Minh trước Cách mạng Tháng Tám 20.000 đồng bạc Đông Dương (tương đương bảy trăm lạng vàng) rồi sau này là thóc gạo, vải vóc, nhà cửa. Bà là một trong những người đóng góp tiêu biểu nhất của “Tuần lễ Vàng” ở Hải Phòng với hơn một trăm lạng vàng.

Một sự kiện vô tiền khoáng hậu khi ấy đối với một phụ nữ chân yếu tay mềm là bà đã ngồi trên chiếc xe ô tô riêng của gia đình mình, treo cờ đỏ sao vàng, phóng từ Hải Phòng lên thẳng Chiến khu qua thành phố Thái Nguyên, nơi quân Nhật còn chiếm đóng đến Đồng Bẩm, Đình Cả, Võ Nhai để báo cho con trai và các đồng chí của mình tin Hà Nội đã giành được chính quyền. Sau thời điểm kháng chiến toàn quốc, bà chính là người đã trao chiếc búa cho đội tự vệ làm cái việc san bằng địa khu biệt thự Đồng Bẩm thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến”.

Cũng vẫn theo nhà sử học Dương Trung Quốc “Hai con trai bà, ông Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước 1945. Khi CCRĐ được phát động, ông Nguyễn Hanh là Đại đội phó bộ đội thông tin. Ông Hanh từng bị thương khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngay ở Cầu Giấy - cửa ngõ Thủ đô. Còn ông Công từng tháp tùng đoàn đại biểu chính phủ do các ông Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy Liệu... vào Huế tước ấn kiếm vua Bảo Đại rồi sau này trở thành một Trung đoàn trưởng nổi tiếng của Sư đoàn 351”.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Pháp, bà Năm tham gia các cấp lãnh đạo của Hội Phụ nữ của tỉnh Thái Nguyên và Liên khu Việt Bắc... Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà cho đến khi bà bị đưa ra đấu tố và bị bắn “thí điểm”.

Vì sao lại là bà Năm?

Trong Hồi ký của mình ông Đoàn Duy Thành, từng là Bí thư Thành ủy Hải Phòng, sau này là Bộ trưởng Bộ Ngoại thương và tiếp theo là Phó Chủ tịch HĐBT có kể: "Sau này khi sửa sai CCRĐ xong, tôi được nghe nhiều cán bộ cao cấp nói lại: “Khi chuẩn bị bắn Nguyễn Thị Năm, Bác Hồ đã can thiệp và nói đại ý: ‘Chẳng lẽ CCRĐ không tìm được một tên địa chủ, cường hào gian ác là nam giới mà mở đầu đã phải bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?”. Nhưng cán bộ thừa hành báo cáo là đã hỏi cố vấn Trung Quốc và được trả lời là: “Hổ đực hay hổ cái, đều ăn thịt người cả!”. Thế là đem hành hình Nguyễn Thị Năm!"

Thủa sinh thời, trong một lần trò chuyện với ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban tuyên giáo Trung ương, người từng nhiều năm “điếu đóm” cho Cụ Hồ (ông tự nhận thế) có kể lại rằng (1): "Chọn địa chủ Nguyễn Thị Năm để làm trước là do có người mách cho cố vấn Trung Quốc. Họp Bộ Chính trị Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào một người đàn bà, mà người ấy lại cũng giúp đỡ cho cách mạng, người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ là đánh bằng một cành hoa”. Sau cố vấn Trung Quốc là Lê Quý Ba đề nghị mãi, Bác nói: “Tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Và họ cứ thế làm".

Khi còn sống Giáo sư Trần Quốc Vượng có lần kể lại với tôi rằng theo lập luận của đội CCRĐ thì “Việc con mụ Năm đã làm chỉ là giả dối nhằm chui sâu, leo cao vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại. Bản chất của giai cấp địa chủ là rất ngoan cố xảo quyệt và tàn bạo, chúng không từ thủ đoạn nào để chống phá cách mạng. Nông dân phải luôn luôn sáng suốt dù chúng giở thủ đoạn nào”.

Ông Bùi Tín còn kể: “Ông Hoàng Quốc có lần Việt kể lại rằng hồi ấy ông chạy về Hà Nội, báo cáo việc hệ trọng này với cụ Hồ Chí Minh. Cụ chăm chú nghe rồi phát biểu: Không ổn! Không thể mở đầu chiến dịch bằng cách nổ súng vào một phụ nữ, và lại là một người từng nuôi cán bộ cộng sản và mẹ một chính uỷ trung đoàn Quân đội Nhân dân đang tại chức. Ông hẹn sẽ can thiệp, sẽ nói với Trường Chinh về chuyện hệ trọng và cấp bách này. Thế nhưng không có gì biến chuyển cả”.

Còn tác giả của “Màu tím hoa sim” Hữu Loan thì nói với tôi rằng, việc lựa chọn bà Năm có các nguyên do sau: Thứ nhất, phương châm chính trong CCRĐ là “thà giết lầm 10 người vô tội, còn hơn để thoát một kẻ thù”. CCRĐ là một cuộc đấu tranh giai cấp giữa bần cố nông và địa chủ (nông dân có ruộng). Do đó địa chủ không thể được lọt lưới, được bỏ sót. Bà Năm lại có đến 2,789 mẫu đất, là một đại địa chủ. Thứ nhì, phát súng đầu tiên bắn vào một phụ nữ để xác định CCRĐ là một cuộc đấu tranh giai cấp và trong đấu tranh giai cấp không phân biệt địa chủ phong kiến là phụ nữ hay đàn ông. Thứ ba, ảnh hưởng kinh tế và chính trị của bà, và của các địa chủ khác, cần phải được thủ tiêu để mở đường xây dựng chế độ mới.

Vấn đề được đặt ra ở đây là, người đứng đầu Đảng LĐVN lúc đó có thực sự “bất lực” trước sức ép của cố vấn Trung Quốc mà buộc phải đồng ý cho xử bắn bà Nguyễn Thị Năm không?

Điểm qua như thế để chúng ta thấy được rằng vụ án Nguyễn Thị Năm nói riêng và CCRĐ nói chung còn rất nhiều uẩn khúc. Những uẩn khúc này không phải chỉ liên quan đến các nạn nhân hay gia đình nạn nhân CCRĐ. Nó còn in đậm nét trong tâm trí của những người đã một thời tin vào chủ nghĩa cộng sản, vào lý tưởng cộng sản, trong đó có những người từng trực tiếp tham gia CCRĐ. Những uẩn khúc này cần phải tiếp tục được làm sáng tỏ.

Bà Năm bị đấu tố và xử bắn như thế nào?

Tôi đã nhiều lần có dịp lên Đồng Bẩm (Thái Nguyên) để tìm hiểu và nghe lại những vị cao niên ở đây kể về vụ án bà Nguyễn Thị Năm, nhưng tiếc rằng, kết quả thu được không nhiều. Năm 2007, tình cờ tôi có đọc được bài viết trên “Người Làng Trà” Nhà báo Nguyễn Thông đã đưa một số chi tiết có liên quan đến bà Nguyễn Thị Năm. Tôi có tìm đến cụ Vãn mà anh Thông nói tới, người được cho là người ở trong nhà bà Năm. Tuy nhiên cụ Vãn đã khước từ kể nhớ lại chuyện cũ.

Theo cuốn “Trần Huy Liệu – Cõi đời” của Trần Chiến, Nhà xuất bản Kim Đồng 2009, thì ông Trần Huy Liệu, lúc đó là uỷ viên Thường trực Quốc hội, thanh tra Cải cách Ruộng đất tại hai xã Đồng Bẩm, Dân Chủ (Thái Nguyên). Ông dự cả hai buổi xử Nguyễn Văn Bính (ngày 18-5-1953) và bà 
Nguyễn Thị Năm (22-5-1953).thì phiên xét xử bà NGuyễn Thị Năm diễn ra như sau:

“Hôm ấy là ngày 22/5/1953, trời nắng chói chang. Để tránh cái nắng nóng nhiều người đã lấy cành cây che đầu, nhưng vì làm như thế thì người ngồi sau sẽ bị che khuất nên Chủ tịch đoàn đã yêu cầu mọi người vứt lá đi. Phiên tòa hôm ấy khoảng 1 vạn người. Cũng như ngày trước, Chủ tịch đoàn lại ra lệnh cho quần chúng hễ thấy địa chủ vào là đả đảo kịch liệt. Khi bà Nguyễn Thị Năm và hai con Hanh, Công (2) cùng đầy tớ là đội Hàm, Chính, Chiêu được Đội dân quân dẫn vào các bần cố nông đã bật dậy hô đả đảo vang trời. Có người còn đòi “bọn địa chủ gian ác” phải đứng lên cao và quay mặt tứ phía cho ai nấy đều trông thấy mặt để đả đảo.

Chủ tịch đoàn giới thiệu từng tên “địa chủ ác ôn” và ngắc ngứ đọc lý lịch, nhưng không nêu tội ác cụ thể. Cứ sau mỗi lần như vậy những người tham dự phiên tòa lại hô vang 3 lần: “Đã đảo, đã đảo, đã đảo!”.

Đám đông đã tỏ ra hết sức phẩn nộ trước thái độ của đội Hàm. Đôi mắt anh này cứ gườm gườm đầy thách thức. Nhiều người đã hét lên yêu cầu lính gác phiên tòa “tát cho nó nảy đom đóm mắt ra để nó cúi gằm mặt xuống mà nhận tội”.Rút kinh nghiệm lần trước, Chủ tịch đoàn tuyên bố đề nghị quần chúng phải giữ vững trật tự và không cần đánh đập tội nhân hay bắt quỳ, bò”.

Vẫn theo Trần Huy Liệu: bà Năm, tham gia phiên tòa hôm ấy kể lại rằng: bà Năm cùng đầy tớ là đội Hàm, Chính được cho ngồi trên một cái bục dưới gốc cây. Quần chúng lần lượt vào đấu tố.

Những tiếng hò hét “Mày có biết tao là ai không?”, “Mày dựa vào thế lực nào?”, “Mày cho tao ăn cơm của chó, mèo thế à?”… vang lên rầm rầm. Bầu không khí hờn căm ngùn ngụt ngút trời xanh! Rút kinh nghiệm của lần đấu trước đó là cứ sau mỗi lần hô như vậy là kèm theo một cái tát vào mặt kẻ bị đấu tố, lần này Chủ tịch đoàn yêu cầu: “chỉ đấu tố, không được tát kẻ thù!”

Những người tố được quần chúng cảm động và tán thưởng nhiều nhất là bà Sâm, chị Đăng và anh Cò. Bà Sâm, với một giọng gợi cảm, kể lể vì Thị Năm mà mình phải suốt đời cô độc, có người rơi nước mắt. Nhưng sự thực, nội dung câu chuyện không có gì.

Chị Đăng (3), một người ở của gia đình bà Năm lâu năm, tố lên rất nhiều sự việc bí mật và chi tiết. Nhưng, tiếc là với một giọng quá lưu loát quen thuộc như một người “tố nghề” được huấn luyện nên ít làm cho ai cảm động.

Cũng có những người lên tố, nhưng do trình độ, học vấn không có nên nói không đạt ý, không rõ việc. Không ai hiểu họ nói gì. Một bà tên là Minh nói việc chẩn bần tại đồn điền Đồng Bẩm năm 1945 đã làm bao nhiêu người chết đói, rồi kết luận bằng những câu: “Mày đừng nhận là chủ đồn điền có được không?”, “Mày chỉ có hình thức thôi” và “Mày nói nhân nghĩa mà mày không nhân nghĩa gì cả” khiến người nghe không hiểu tội bà Năm ở đâu.

Còn một ông tên là Giồng tố cáo bà Năm đã cướp gánh cỏ của ông ta để cho ngựa của bà ăn và cướp cả giỏ củ mài làm cho cả nhà ông ta phải nhịn đói.

(Câu chuyện tuy hết sức phi lý và hài hước của ông này, nhưng thật kỳ lạ là sau đó đã được một văn nghệ sĩ làm thành hẳn một bài thơ tràng thiên rất cảm động-NV).

Con gái ông Giồng, hơn mười tuổi, đáng nhẽ cứ kể rành rọt cảnh đói rét của nhà mình phải chịu vì sự bóc lột của bà Năm, nhưng nó lại nói bằng một giọng “bà cự” nên nhiều người không cảm động, mà lại phát ghét.

Hài hước hơn cả là trường hợp của một chị có tên là Lý. Chị Lý tố cáo rằng, chị ta là con nuôi của bà Năm, được bà Năm trang điểm cho để định gả cho một võ quan Nhật. Nhưng sau khi biết chị chỉ là thân phận tôi đòi, không có tiền của gì thì tên Nhật lại không lấy và chị lại bị bà Năm bắt lột trả lại quần áo, trở lại thân tàn ma dại như trước. Nội dung tố cáo chỉ là thế, nhưng vì chị ta vừa nói vừa khóc nên không ai rõ chị ta nói gì.

Tuy vậy, trong đám người tố, vẫn còn sót lại một ít những phong thái cũ. Câu hỏi “Mày có biết tao là ai không?” đã được chủ tịch đoàn ngắt đi bằng câu: “Cứ việc tố không cần bắt nó trả lời”. Một vài cái tát vẫn còn diễn ra. Một người ở Phúc Trừu tố cáo Thị Năm về tội chiếm đoạt ruộng đất khẩn hoang của nông dân và cơi thùng thóc lên để thu thóc, rồi kết luận “Như thế mày có xứng đáng là địa chủ không?”. Một người khác tố Thị Năm, đội Hàm và Lý Nguyên Lập bảo an đoàn ở Phúc Trừu bắt nông dân gác và đánh đập tàn nhẫn, cũng để đi tới kết luận: “Mày là con chó! Chứ không phải địa chủ?”.

Một tá điền tố Thị Năm lấy ruộng của mình đương làm bán cho người khác vì mình không có tiền mua, bằng câu: “Lấy tiền ở mả bố mày mà mua à?”. Nhiều người vẫn gắn vào hai chữ “tiến bộ”: “Mày nói mày tiến bộ mà như thế à?” Đi xa hơn nữa, có người nói Thị Năm lập quán Bông Lau ở thị xã Thái Nguyên để đón gián điệp trong khi ai cũng biết đó là cơ quan sinh lợi của hội Phụ nữ liên hiệp tỉnh Thái Nguyên”.

Địa chủ ác ghê

Chỉ một ngay sau khi bắn bà Năm, ngày 21-7-1953, báo Nhân dân đăng bài “Địa chủ ác ghê”. Sau đây là toàn văn bài báo:

“Thánh hiền dạy rằng: "Vi phú bất nhân". Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá - thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã: Giết chết 14 nông dân. Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật. Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người - năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân - Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang. Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-Hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống. Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra. Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên. Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt. Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-Hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là: Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng. Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!”.

Tác giả bài báo được ghi là: C.B.

Nhà tan cửa nát

Theo nhà báo Xuân Ba thì ngay sau khi bà Năm bị bắt, Đội cải cách đã nhiều lần khám xét, lục lọi mọi hang cùng ngõ hẻm ngôi nhà, khu vườn của gia đình bà Năm và đem đi tất cả những gí, kể cả dao cùn, giẻ rách,có thể mang đi được. Theo lời cô dâu cả bà Năm thì trước khi bị bắt đưa đi bà Năm còn ném lại cho cô một cái túi đựng đầy kim cương. Trong một đợt khám xét Đội cải cách đã phát hiện ra cái túi kim cương ấy và ra lệnh tịch thu! Tịch thu nhưng không hề có biên bản, giấy biên nhận mà là thu trắng tài sản của bọn tư sản địa chủ cường hào gian ác. “Không biết cái túi của cụ nhà tôi mà đội cải cách tịch thu ngày ấy có mang sung vào công quỹ hay là mang đi làm của riêng?” - Cô con dâu bà Năm sau này mỗi lần nhắc lại việc này đều băn khoăn với một câu hỏi như vậy.

Những người con của bà Nguyễn Thị Năm sau này có một cuộc sống hết sức long đong. Theo nhà báo Xuân Ba thì ông Cát qua đời năm 1989, ở tuổi 64, trong một tai nạn giao thông thảm khốc. Còn ông Hanh, sau khi Đảng sửa sai CCRĐ, quyết định đưa gia đình con cháu rời Thái Nguyên, mảnh đất đã chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát, nơi mà dẫu những gào thét “địa chủ ác ghê” đã dịu đi đôi chút, nhưng còn đầy thù hận và khổ đau. Ông đưa vợ con, cháu về Hà Nội. Vài người bạn thân hoặc quen biết từng nhờ cậy gia đình ông trước đây cho ở nhờ. Nay đây mai đó. Mãi sau này ông mới tậu được một căn phòng nhỏ ở 117 Hàng Bạc và tá túc tại đó cho tới ngày nay, khi cả hai ông bà đã ở tuổi 90.

Năm 1998 ông Nguyễn Hanh và ông Nguyễn Cát hai con trai của bà Năm đã được công nhận là cán bộ hoạt đông lâu năm, cán bộ tiền khởi nghĩa. Còn người con dâu Đỗ Thị Diệp, sớm hơn năm 1980 đã được xác nhận danh hiệu cán bộ hoạt động lâu năm.

Còn riêng đối với bà Nguyễn Thị Năm thì người ta mới có động thái duy nhất là hạ thành phần cho cụ từ tư sản địa chủ cường hào gian ác xuống tư sản địa chủ kháng chiến!

P/S: Tôi biết, trong cuộc CCRĐ còn nhiều người bị bắn oan, nhà tan cửa nát, con cháu cũng long đong, lận đận, cơ cực thậm chí còn hơn cả gia đình bà Nguyễn Thị Năm và cho đến nay họ vẫn chưa được viết một dòng nào về số phận của họ, con cháu họ. Tôi muốn dành bài viết này như một nén hương dành cho bà Nguyễn Thị Năm và những nạn nhân như bà để chúng ta, mà không chỉ chúng ta, không bao giờ quên một trong những giai đoạn bi thương nhất của lịch sử dân tộc!

 Theo FB Lê Thọ Bình

Ghi chú

(1) Sau này trong Hồi ký của mình và trong nhiều bài trừ lời phỏng vấn báo chí Ông Hoàng Tùng vẫn khẳng định lại lời nói này.
(2) Theo một số nhà nghiên cứu khác thì lúc này hai con bà Nguyễn Thị Năm là ông Hanh và ông Công không có mặt trong phiên tòa này.
(3) Chưa xác định được chị Đăng trong phiên tòa này và cụ Vãn mà nhà báo Nguyễn Thông nói trong “Làng Trà” có phải là một không.